Thư viện Trường Tiểu học Thiệu Khánh
Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Lịch sử Y Học

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Sinh
Ngày gửi: 17h:05' 08-04-2024
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Sinh
Ngày gửi: 17h:05' 08-04-2024
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Lời nói đầu
“Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần cũng như
xã hội chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật” (theo Tổ
chức Y tế Thế giới).
Mục đích chủ yếu của tôi khi viết và chỉnh lý quyển sách này là nhằm đưa
ra một bản giới thiệu cập nhật về lịch sử y học. Mặc dù tài liệu lúc đầu vốn
là “một trợ giảng” trong khóa học tổng quan kéo dài một học kỳ của tôi,
nhưng tôi hy vọng rằng ấn bản mới này cũng sẽ nhận được sự quan tâm từ
nhiều đối tượng độc giả, cũng như từ các thầy giáo có ý muốn bổ sung các
nội dung lịch sử môn học cho các môn khoa học hoặc bổ sung nội dung
khoa học vào các môn lịch sử của mình. Cũng như ấn bản trước, tôi cố
gắng hướng sự chú ý của người đọc đến các chủ đề chính trong lịch sử y
học, sự tiến hóa của các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu, cũng
như các quan điểm và giả định khác nhau nhờ đó các thầy thuốc và bệnh
nhân hiểu được sức khỏe, bệnh tật và sự lành bệnh.
Có nhiều đổi thay đã xuất hiện trong lịch sử y học kể từ thập niên 1940
khi Henry E. Sigerist (1891-1957) hô hào cần phải có một hướng đi mới
trong lĩnh vực này, chuyển từ việc nghiên cứu về các thầy thuốc lớn và các
tài liệu của họ sang một quan niệm mới xem lịch sử y học như là lịch sử xã
hội và văn hóa. Từ chỗ hầu như chỉ xoáy vào sự tiến hóa của các lý thuyết
y học hiện đại, các học giả bắt đầu nhắm vào các vấn đề mới liên quan đến
bối cảnh xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị trong đó thầy thuốc và bệnh
nhân đều có vai trò. Do chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi các quan niệm và kỹ
thuật mượn từ ngành xã hội học, tâm lý học, nhân chủng học và dân số học,
các sử gia mới chuyên về các khía cạnh xã hội và văn hóa trong y học nhấn
mạnh đến các yếu tố như chủng tộc, giai cấp, giới tính, cũng như các gắn
kết thuộc về định chế và nghề nghiệp. Vẫn còn một số tranh luận về bản
chất của lĩnh vực này, nhưng thảy đều nhất trí rằng lịch sử y học không chỉ
đơn giản là một câu chuyện kể lại lộ trình đi từ thời tối tăm đến sự khai
sáng của khoa học hiện đại.
Căn cứ vào tính sinh động và đa dạng của lĩnh vực này hiện nay, việc tìm
ra cách thức thỏa đáng để trình bày một đánh giá ở mức sơ đẳng về lịch sử
y học càng ngày càng trở nên khó khăn. Vì thế, cách tiếp cận có chọn lọc,
tức là cách dựa trên sự cân nhắc các nhu cầu và sự quan tâm của độc giả là
những người lần đầu tiếp cận với lĩnh vực này dường như là phù hợp. Vì
thế, tôi đã chọn những ví dụ đặc thù về các lý thuyết, các chứng bệnh, nghề
nghiệp, các thầy thuốc, và các nhà khoa học, và cố gắng sử dụng các ví dụ
này để làm sáng tỏ những chủ đề liên quan đến các vấn đề cơ bản về sức
khỏe, bệnh tật, và lịch sử. Về đại thể, nội dung quyển sách được sắp xếp
theo trình tự thời gian, nhưng chủ yếu dựa trên chủ đề.
Các lý luận và thực tiễn trong y học có thể đưa ra một công cụ nhạy để
thăm dò hệ thống chặt chẽ các tương tác xã hội, cũng như các dấu vết của
sự du nhập, phát tán và cải biến của những ý tưởng và kỹ thuật mới hoặc lạ
lẫm. Các vấn đề y học đều liên quan đến những khía cạnh cơ bản và hiển
hiện nhất của mọi xã hội - sức khỏe và bệnh tật, sung túc và nghèo đói, sự
ra đời, quá trình lão hóa, tàn tật, khổ ải và chết chóc. Bất kỳ ai trong mọi
thời kỳ của lịch sử cũng đều phải đối phó với vấn đề sinh đẻ, bệnh tật, chấn
thương, và sự đau đớn. Vì thế, những biện pháp được phát triển để chữa
lành tâm thần và thể xác sẽ là tâm điểm đáng giá để khảo sát các nền văn
hóa và hoàn cảnh khác nhau. Có thể sự thâm nhập vào lịch sử y học sẽ
mang lại cho ta một sự gần gũi với người bệnh và người chữa bệnh trong
quá khứ và hiện tại, một ý thức khiêm tốn khi đứng trước bệnh tật và thiên
nhiên và một cách tiếp cận có cân nhắc đối với các vấn đề y học hiện nay
của chúng ta.
Lịch sử y học có thể rọi sáng các quy luật biến đổi của y tế và bệnh tật,
cũng như những vấn đề về hành nghề y, sự chuyên nghiệp hóa, các định
chế, việc đào tạo, chi phí y tế, chẩn đoán và điều trị. Kể từ cuối thế kỷ 19,
các ngành y sinh học đã phát triển mạnh mẽ khi đi theo cái gọi là “tín điều
về từng bệnh nguyên học cụ thể” - tức là, cái quan niệm cho rằng nếu chúng
ta hiểu được tác nhân gây bệnh của một chứng bệnh, hoặc là các biến cố
phân tử chuyên biệt của một tiến trình bệnh lý, thì chúng ta hoàn toàn có thể
hiểu được và khống chế được bệnh đó. Quan điểm này bỏ qua không nhắc
đến những khía cạnh xã hội, đạo đức, kinh tế và địa lý-chính trị phức tạp
của bệnh tật trong một thế giới càng ngày càng trở nên gần gũi nhiều hơn
nhờ các phương tiện giao thông và liên lạc hiện đại, nhưng đồng thời cũng
bị chia tách ngày càng rộng hơn vì những khác biệt giữa sự giàu có và
nghèo đói.
Các cuộc tranh luận công khai về y học ngày nay dường như hiếm khi đề
cập đến những chủ đề cơ bản về nghệ thuật và khoa học của y học; thay
vào đó, là những vấn đề được đem ra mổ xẻ dằng dai nhất lại liên quan đến
chi phí chăm sóc y tế, có hay không có các dịch vụ, khả năng tiếp cận các
dịch vụ đó, tính công bằng và trách nhiệm. Những so sánh giữa các hệ
thống y tế của nhiều quốc gia khác nhau cho thấy rằng mặc dù có sự khác
biệt về hình thức, triết lý, cách tổ chức, và các mục tiêu, nhưng tất cả đều bị
sức ép do chi phí ngày càng tăng và những kỳ vọng và áp lực trên các
nguồn lực ít ỏi hoặc hạn hẹp. Các viên chức chính phủ, các nhà phân tích
chính sách và những người làm công tác chuyên môn trong ngành y ngày
càng tập trung công sức và mối quan tâm của mình nhiều hơn vào các biện
pháp kìm hãm chi phí. Hiếm khi có ai thử đặt lại vấn đề là ngành y nói
chung như thế nào xét về các chủ đề được các nhà dân số học, dịch tễ học
và sử gia nêu ra cũng như về giá trị tương đối của nền y học hiện đại và
những cải cách có cơ sở rộng lớn hơn về mặt môi trường và hành vi có thể
ảnh hưởng mạnh mẽ lên các mô thức mắc bệnh và tử vong.
Những người hoài nghi nói rằng, dường như chúng ta đã đánh đổi các bệnh
dịch của một thế hệ này để lấy dịch bệnh của một thế hệ khác. Ít nhất, tại
những nơi giàu có, công nghiệp hóa nhiều hơn trên thế giới, mô hình bệnh
tật phổ biến đã chuyển từ một dạng trong đó nguyên nhân tử vong là các
bệnh truyền nhiễm sang một dạng khác với các bệnh thoái hóa và mạn tính
chiếm đa số, kết hợp với một sự chuyển đổi nhân khẩu học của một thời đại
có tỷ lệ tử vong ở trẻ còn bú cao sang một thời đại mà tuổi thọ tăng và một
dân số ngày càng già cỗi. Kể từ cuối thế kỷ 19, chúng ta thấy có một sự
chuyển đổi rõ rệt từ một thời kỳ trong đó việc dự phòng khá tốn kém
(chẳng hạn như việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải) và việc điều trị về cơ
bản là không tốn kém (ví dụ như trích huyết và xổ ruột) sang một thời kỳ
trong đó chi phí điều trị rất cao (ví dụ các thủ thuật bắt cầu mạch vành) và
dự phòng ít tốn kém (như tập thể dục và chế độ ăn ít cholesterol). Sau
nhiều năm tán dương các thành quả thấy được của ngành khoa học y sinh,
điển hình là những đóng góp như vaccine, kỹ thuật gây mê/gây tê, thuốc
insulin, ghép tạng, và niềm hy vọng rằng các bệnh dịch sẽ theo chân bệnh
đậu mùa đi vào quên lãng, thì nay những vấn đề nhức nhối và sâu xa lại
được nêu ra về sự cách biệt giữa các chi phí của nền y học hiện đại và vai
trò mà y học quyết định các kiểu mắc bệnh và tử vong về mặt lịch sử và
toàn cầu. Khi phân tích cẩn thận vai trò của y học, các yếu tố môi trường và
xã hội trong việc quyết định sức khỏe của người dân, người ta thấy rằng kỹ
thuật y học không phải là bài thuốc bá bệnh cho bệnh cấp tính gây dịch
hoặc bệnh mạn tính và bệnh địa phương.
Một mô tả khái quát về lịch sử y học sẽ củng cố nguyên tắc cơ bản là nếu
chỉ riêng một mình y học thì sẽ không bao giờ là giải pháp cho những điều
bất hạnh của cá nhân hoặc những điều bất hạnh của xã hội, nhưng con
người chưa bao giờ từ bỏ việc trông chờ vào các nghệ thuật chữa bệnh để
tập trung vào những cách điều trị, an ủi, cải thiện, giảm nhẹ bệnh tật, và
phục hồi. Có lẽ khi hiểu rõ hơn các quan niệm trước đây về sức khỏe, sự
lành bệnh và bệnh tật sẽ giúp cho ta nhận ra nguồn gốc các vấn đề hiện tại
với những giới hạn và trở ngại cố hữu của các quan niệm hiện hành.
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng cảm kích sâu sắc đối với John
Parascandola và Ann Carmichael qua những lời góp ý, phê bình vô giá và
sự khích lệ của họ trong khi chuẩn bị bản in lần thứ nhất của quyển sách
này. Dĩ nhiên, tất cả những sai sót còn lại do thiếu sót và vấp váp đều là của
tôi. Tôi cũng xin hết sức cám ơn các sinh viên dự khóa học, đọc các sách do
tôi viết, và báo cho tôi biết phần nào rõ ràng và phần nào còn tối nghĩa. Tôi
cũng xin cám ơn Bộ phận Lịch sử Y học thuộc Thư viện Quốc gia (Hoa Kỳ)
về Y học đã cung cấp các tài liệu minh họa sử dụng trong sách này và cám
ơn Tổ chức Y tế Thế giới về bức ảnh ca bệnh đậu mùa cuối cùng tại tiểu lục
địa Ấn Độ. Tôi cũng xin cám ơn công ty Marcel Dekker, Inc. đã mời tôi
chuẩn bị ấn bản lần thứ hai của quyển Lịch sử Y học.
Lois N. Magner
1
Bệnh lý họ c và Y học cổ sinh
DẪN NHẬP
Một trong những huyền thoại lôi cuốn và vương vấn chúng ta nhất là huyền
thoại thời Hoàng kim, thời đại trước khi phát hiện cái tốt và cái xấu, khi cái
chết và bệnh tật chưa ra đời. Thế nhưng, bằng chứng khoa học - tuy ít ỏi,
manh mún, và dù nhiều khi còn mang tính thách đố - lại chứng minh rằng
bệnh tật xuất hiện trước loài người từ lâu và không phải là hiếm hoi đối với
các loài khác. Thật vậy, những nghiên cứu trên các hóa thạch cổ, các bộ
xương của các bộ sưu tập trong viện bảo tàng, động vật trong sở thú và ở
ngoài hoang dã cho thấy rằng chứng viêm khớp khá phổ biến đối với
những loài động vật có vú trung bình và lớn, kể cả con lợn đất (aardvarks)
chuyên ăn kiến, và linh dương gazel. Bằng chứng nhiễm trùng được tìm
thấy trong xương của các động vật thời tiền sử, và trong mô mềm của các
xác ướp. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại phát hiện được bằng
chứng u bướu trong các hài cốt hóa thạch. Lấy ví dụ, các nhà nghiên cứu
chụp CT hộp sọ của một con khủng long bạo chúa (gorgosaurus) 72 triệu
năm đã phát hiện một u não có khả năng làm cho con vật mất thăng bằng
và chuyển dịch khó khăn. Những bất thường khác trên mẫu nghiên cứu cho
thấy con vật bị gãy xương đùi, xương ống chân và xương vai.
Như vậy, việc hiểu được kiểu thức bệnh tật tấn công các bậc tổ tiên tiền sử
của chúng ta đòi hỏi ta phải có cách nhìn của các nhà bệnh lý học cổ sinh
(paleopathologist). Marc Armand Ruffer (1859-1917), một trong những
người sáng lập môn bệnh lý học cổ sinh, đã định nghĩa đây là khoa học về
những bệnh có thể chứng minh qua hài cốt động vật thời cổ đại. Môn bệnh
học cổ sinh cung cấp các thông tin về sức khỏe, bệnh tật, tử vong, môi
trường và văn hóa của các quần thể cổ đại.
Để tìm hiểu vấn đề bệnh giữa những con người thời cổ đại, chúng ta cần
khảo sát một số mặt về sự tiến hóa con người, về mặt sinh học lẫn văn hóa.
Trong quyển sách Sự Xuất hiện của Con người và sự Chọn lọc dựa theo
quan hệ giới tính (Descent of Man and Selection in Relation to Sex (1871)),
Charles Darwin cho rằng con người cũng giống như các loài khác, đều phát
triển từ những dạng sống trước đó qua hình thức chọn lọc tự nhiên. Theo
Darwin, tất cả các bằng chứng hiện có cho thấy rằng “con người có dòng
dõi từ động vật 4 chân, có lông, có đuôi, có lẽ có thói quen sống trên cây”.
Mặc dù không có nhiều bằng chứng, nhưng Darwin cho rằng tổ tiên xa xưa
của con người hiện đại có họ hàng với khỉ đột (gorilla) và tinh tinh
(chimpanzee). Ngoài ra, ông còn tiên đoán rằng những con người đầu tiên
có lẽ đã tiến hóa ở châu Phi. Các bằng chứng đi từ nghiên cứu các hóa
thạch, địa tầng và sinh học phân tử cho thấy rằng sự tách rời giữa con
người với khỉ đã xảy ra tại châu Phi từ 5 đến 8 triệu năm trước đây.
Các hài cốt hóa thạch của tổ tiên con người cung cấp cho ta các đầu mối
giá trị về quá khứ, nhưng những hóa thạch như thế còn rất ít và thường là
không đầy đủ. Nhà nghiên cứu giải phẫu học người Nam Phi Raymond
Dart, đã có một phát hiện đầy ý nghĩa đầu tiên về tổ tiên con người tại châu
Phi vào những năm 1920, khi ông xác định các hóa thạch nổi tiếng là người
vượn Nam Phi (Australopithecus africanus). Những phát hiện hứng thú
nhất trong thế kỷ 20 sau đó về tổ tiên con người cổ đại có liên quan đến
công trình của vợ chồng Louis và Mary Leakey và của Donald Johanson.
Làm việc chủ yếu tại các địa điểm thuộc hẻm núi Olduvai và Laetoli tại
Tanzania, Mary và Louis Leakey tìm thấy nhiều hóa thạch hominid (vượn
người), trong đó có Australopithecus boisei và Homo habilis. Phát hiện
quan trọng nhất của Johanson là một bộ xương còn nguyên vẹn một cách
bất thường của giống australopithecine sơ khai (Australopithecus
afarensis), thường được gọi là Lucy. Các hài cốt giống hominid mới được
phát hiện vào đầu thế kỷ 21 đã thúc đẩy nhiều cuộc tranh luận sâu hơn về
các tổ tiên hominid thời cổ đại cũng như tổ tiên của loài tinh tinh
(chimpanzee).
Ngành nhân loại học cổ sinh là một lĩnh vực trong đó các phát hiện mới
chắc chắn sẽ dẫn tới việc rà soát lại những phát hiện trước đó cùng với nhiều
tranh luận kịch liệt về nguồn gốc và phân loại của mấy mẫu răng và xương
nhỏ xíu. Những phát hiện mới hơn chắc chắn sẽ bổ sung nhiều kiến thức về
lịch sử tiến hóa con người và cũng làm nổ ra nhiều tranh cãi giữa các nhà
nhân loại học cổ sinh. Các nhà khoa học cũng thừa nhận rằng các bệnh thuộc
bệnh học cổ sinh giả cũng có thể làm cho người ta hiểu nhầm và diễn giải sai
bởi vì tuy chúng rất giống với những thương tổn do bệnh, nhưng thực ra đó
chỉ là những quá trình sau khi chết. Lấy ví dụ, do các thành phần muối cơ
bản trong xương đều dễ hòa tan trong nước, cho nên các loại đất dễ làm mất
đi chất calcium sẽ khiến cho xương bị thay đổi giống như tổn thương do
loãng xương. Mặc dù lắm điểm còn mơ hồ trong các hài cốt cổ xưa, nhưng
các phương pháp bệnh học cổ sinh có thể phát hiện ra dấu hiệu của bệnh và
chấn thương trên những hài cốt này.
Các kiến thức từ nhiều ngành học khác nhau, như khảo cổ, địa lý học lịch
sử, hình thái học, giải phẫu học so sánh, phân loại học, di truyền học và
sinh học phân tử đều giúp cho chúng ta hiểu nhiều hơn về sự tiến hóa của
con người. Những thay đổi trong DNA, kho lưu trữ các tài liệu về phả hệ
con người, đã được sử dụng để xây dựng lại cây phả hệ, gia đình và các
kiểu di dân thời xa xưa. Một số gene có thể làm rõ sự khác biệt quan trọng
giữa con người và các loài linh trưởng khác, chẳng hạn như khả năng diễn
đạt ngôn ngữ thành lời.
Về mặt giải phẫu học mà nói thì con người chỉ mới xuất hiện khoảng
130.000 năm trước đây, nhưng con người hiện đại đúng nghĩa, có được các
hoạt động phức tạp, chẳng hạn như chế tạo ra các công cụ phức tạp, các tác
phẩm nghệ thuật, giao thương đường dài, dường như chỉ mới có trong các
tài liệu khảo cổ chừng 50.000 năm nay mà thôi. Tuy vậy, mối liên hệ giữa
con người và các dòng hominid đã tuyệt giống vẫn còn là vấn đề tranh cãi.
Thời đồ đá cũ, thời điểm mà những bước quan trọng nhất trong sự tiến hóa
văn hóa xuất hiện, lại trùng hợp với kỷ địa chất Pleistocene (Kỷ băng hà
lớn), vốn đã chấm dứt khoảng 10.000 năm trước đây với sự thoái lui cuối
cùng của các băng hà. Những con người cổ đại là người săn bắt -hái lượm,
tức là các động vật ăn tạp có cơ hội học cách làm ra công cụ, xây dựng chỗ
trú ẩn, mang vác và chia sẻ thức ăn và xây dựng các cấu trúc xã hội mang
tính độc đáo con người. Mặc dù trong thời đồ đá cũ con người mới chỉ sản
xuất được các công cụ thô sơ bằng xương và đá ghè, và chưa có các vật
dụng bằng gốm và kim loại, nhưng con người vào thời kỳ này cũng đã tạo
ra được các bức vẽ ngoạn mục trong hang Lascaux (Pháp) và Altamira
(Tây Ban Nha). Cũng có khả năng là họ cũng có các phát minh hữu ích
nhưng lại dễ bị phân hủy sinh học, cho nên không còn lưu được dấu vết gì
trên các hóa thạch. Thật vậy, trong thập niên 1960, các nhà khoa học có
khuynh hướng bảo vệ nữ quyền đã cật vấn những giả định hiện nay về tầm
quan trọng của sự săn bắt có phải đúng là cách thức kiếm thức ăn của con
người săn bắt-hái lượm. Có lẽ các hạt, quả, rau quả hoang dại và các thú
nhỏ do phụ nữ hái lượm đã góp phần đáng kể trong chế độ ăn của người
thời đồ đá cũ. Hơn thế nữa, do phụ nữ thường phải chăm sóc con nhỏ, cho
nên có thể họ sáng tạo ra những cây gậy có thể dùng để đào lỗ, các thứ túi
để mang và cất giữ thức ăn.
Cuộc cách mạng thời đồ đá mới là sự chuyển đổi sang một hình thức sản
xuất lương thực mới qua canh tác và chăn nuôi. Con người thời đồ đá mới
chế tạo các đồ dùng như đan giỏ, làm đồ gốm, đánh sợi và dệt vải. Mặc dù
không có công trình nghệ thuật nào trong thời kỳ này được coi là đặc sắc
như các bức tranh trong hang động thời đồ đá cũ ở Pháp và Tây Ban Nha,
con người thời đồ đá mới đã sản xuất ra các tác phẩm điêu khắc, tượng nhỏ
và đồ gốm đầy thú vị.
Nếu lúc trước các nhà khảo cổ và nhân chủng học bị ám ảnh với câu hỏi là
lối sống nông nghiệp có từ đâu và bao giờ, thì giờ đây họ quan tâm nhiều
hơn tới câu hỏi vì sao và như thế nào. Các nhà nhân chủng học thế kỷ thứ
19 thường xếp đặt các nền văn hóa con người vào một loạt các giai đoạn
tiến triển đi lên qua các loại công cụ được chế tạo và phương cách sản xuất
lương thực. Kể từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, các phương pháp phân tích
mới cho phép kiểm tra các giả thiết về sự biến đổi khí hậu và môi trường và
ảnh hưởng của chúng đến các nguồn lương thực. Khi một ý tưởng lý giải
sự tiến bộ được đưa ra phân tích cặn kẽ thay vì được chấp nhận một cách
đương nhiên, thì các nguyên nhân của sự chuyển đổi ở thời đồ đá mới
không còn được coi là sáng tỏ như lúc trước nữa. Căn cứ trên thực tế những
người săn bắt-hái lượm có thể có một chế độ ăn uống khá hơn và sống an
nhàn hơn những người canh tác nông nghiệp, dù là ở thời tiền sử hoặc thời
hiện đại, thì những lợi điểm của cuộc sống ổn định chỉ có đối với những ai
đã an cư và ăn uống dư dả. Nguồn thực phẩm có được đối với những người
săn bắt-hái lượm tuy có phong phú hơn so với thực phẩm của người làm
nông nghiệp, nhưng thực ra vẫn là bấp bênh và không chắc chắn.
Những nghiên cứu gần đây về nguồn gốc nông nghiệp cho thấy rằng nông
nghiệp hầu như đã ra đời trong khoảng từ 10.000 đến 20.000 năm trước
đây, chủ yếu là để đối phó với các áp lực do phát triển dân số sinh ra. Khi
so sánh sức khỏe của những người hái lượm và các nông dân an cư, các
nhà bệnh học cổ sinh thường thấy rằng sự phụ thuộc vào việc trồng trọt
một loại cây lương thực sẽ làm cho dân chúng sẽ có mức dinh dưỡng kém
đi so với những người săn bắt-hái lượm, thông qua chiều cao, mức độ lực
lưỡng, sức khỏe của hàm răng, và nhiều thứ nữa. Trong các xã hội nông
nghiệp, đáy của tam giác thực phẩm trở nên nhỏ hơn khi con người chỉ
canh tác một vài loại hoặc thậm chí một loại cây lương thực. Vì thế, nguồn
thực phẩm có thể đầy đủ về số lượng và calorie, nhưng lại thiếu các
vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, việc thuần hóa động vật dường như đã
cải thiện được tình trạng dinh dưỡng và dân số thời cổ đại. Mặc dù toàn bộ
dân số rõ ràng là đã tăng rất chậm trước khi con người chọn việc canh tác,
nhưng sau đó lại tăng lên rất nhanh. Trong các xã hội du mục, do thời gian
cho con bú kéo dài cùng với những cấm kị giao hợp sau khi sinh đã làm
giãn thời gian giữa hai lần sinh. Đời sống làng mạc đã làm cho phụ nữ thôi
cho con bú sớm và thời gian giữa hai lần sinh ngắn lại. Những thay đổi có
tính cách mạng trong môi trường vật lý và xã hội cùng với sự chuyển dịch
từ lối sống của các nhóm nhỏ dân cư săn bắt-hái lượm đi lang thang đến lối
sống định cư của những nhóm dân tương đối đông đúc cũng tạo nên những
thay đổi lớn về các kiểu bệnh tật. Nơi ở lâu dài, với vườn tược, đồng ruộng
làm phát sinh ra những ổ chứa thuận tiện cho các ký sinh trùng, côn trùng
và loài gặm nhấm. Thực phẩm để trong kho cũng có thể bị hỏng, kéo theo
các sâu hại, và bị nhiễm bẩn với những thứ như chất thải của loài gặm
nhấm, côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc và các độc tố. Canh tác nông nghiệp
làm tăng số lượng calorie sản xuất trên mỗi đơn vị đất đai, nhưng đồng thời
làm cho chế độ ăn dựa quá nhiều vào ngũ cốc nhưng có thể không đầy đủ
về protein, vitamin và chất khoáng.
Do không hoạt động nhiều và không có nhiều tài nguyên đa dạng như
những người săn bắt-hái lượm, cho nên đám dân định cư dễ bị ảnh hưởng
khi mùa màng thất bát, đói kém. Những vụ đói kém tại một vùng nào đó có
thể khiến cho người dân phải bỏ xứ ra đi đến những nơi khác đồng thời cũng
mang theo các ký sinh trùng và tác nhân gây bệnh cho người dân và nơi cư
trú mới. Điều khôi hài là việc quá lo nghĩ về chế độ ăn hiện đại có chứa
nhiều thành phần không tự nhiên đã trở nên rất thịnh hành, khiến người dân
tại các quốc gia giàu có nhất giờ đây lại có ý tưởng ngược đời là quay lại với
chế độ ăn của con người cổ đại hoặc thậm chí chế độ ăn của những loài linh
trưởng hoang dã. Trên thực tế, nguồn thức ăn của những con người tiền sử
vốn không hề dư dả, lại đơn điệu, tồi tàn và bẩn thỉu.
NGÀNH BỆNH HỌC CỔ SINH:
PHƯƠNG PHÁP VÀ VẤN ĐỀ
Do bằng chứng trực tiếp về bệnh tật của con người cổ đại còn rất hạn chế,
cho nên ta phải tìm một loạt các phương pháp gián tiếp để có được một cái
nhìn sơ lược về thế giới tiền sử. Lấy ví dụ, những nghiên cứu về sinh vật
họ hàng gần gũi nhất của chúng ta, loài khỉ nhân hình và khỉ, đã cho thấy là
sống theo kiểu tự nhiên không hẳn là sẽ không mắc bệnh. Các loài linh
trưởng hoang dã bị rất nhiều bệnh, như viêm khớp, sốt rét, thoát vị bẹn,
bệnh ký sinh trùng và răng đâm vào nhau. Tổ tiên chúng ta, những “con khỉ
nhân hình trụi lông” đầu tiên, được cho là đã nếm mùi các bệnh tật tương
tự như những bệnh tật xảy ra ở các loài linh trưởng hiện nay trong quãng
đời quả là “bẩn thỉu, thô lậu và ngắn ngủi”. Tuy vậy, con người tiền sử dần
dần học được cách thích ứng với các môi trường khắc nghiệt, vốn chẳng hề
giống với cảnh Vườn Địa Đàng trong thần thoại. Mãi về sau, qua sự tiến
hóa văn hóa, con người mới thay biến đổi môi trường của mình theo những
cách chưa hề có tiền lệ, ngay cả khi họ phải phụ thuộc vào môi trường đó.
Khi thuần hóa các động vật, vận dụng thành thục các kỹ thuật canh tác, và
xây dựng nên những nơi định cư đông đúc, con người cũng tạo ra những
dạng bệnh tật mới.
Các nhà bệnh học cổ sinh phải sử dụng đến các bằng chứng sơ cấp và thứ
cấp để rút ra các dẫn liệu về các dạng bệnh tật thời tiền sử. Bằng chứng sơ
cấp bao gồm cơ thể, xương, răng, tro và các phần còn lại của cơ thể đã khô
hoặc cháy thành than tại những nơi chôn xác người vô tình hoặc có chủ ý.
Các nguồn bằng chứng thứ cấp bao gồm nghệ thuật, đồ tạo tác, đồ tùy táng
của những con người thời chưa có chữ viết, và các tài liệu cổ mô tả hoặc
gợi ý sự hiện diện các tình trạng bệnh học. Các tài liệu có được qua những
nghiên cứu như trên còn rất sơ sài, và do đa số chỉ là những phần cứng của
cơ thể - như xương và răng - rõ ràng là đã cho ta một hình ảnh méo mó của
quá khứ.
Thật vậy, do rất ít có khả năng đạt tới một chẩn đoán chính xác khi nghiên
cứu các di vật xa xưa cho nên một số học giả nhấn mạnh rằng không nên
gán tên của các bệnh hiện nay cho các phát hiện của thời xa xưa. Những
chuyên gia khác lại cứ đưa những bệnh tật thời đồ đá cũ vào cách phân loại
hệ thống hóa hiện tại như các dị tật bẩm sinh, tổn thương, nhiễm trùng, các
bệnh thoái hóa, ung thư, bệnh do thiếu chất, và thậm chí những bệnh chưa
rõ nguyên nhân là nhóm khá rộng.
Tuy nhiên, khi kết hợp các kỹ thuật cổ điển với hiện đại, các nhà khoa học
có thể qua những bằng chứng manh mún này mà gặt hái được những kiến
thức mới về cuộc đời của con người thời cổ đại. Có thể gọi một ngành học
nghiên cứu các di vật con người qua phương pháp khảo cổ là ngành khảo
cổ học sinh học, là một lĩnh vực kết hợp giữa ngành khảo cổ học và nhân
chủng học cơ thể (physical anthropology).
Các phong tục tang lễ, cách thức táng, các điều kiện môi trường chẳng hạn
như nóng, ẩm, thành phần của đất, đều ảnh hưởng đến tình trạng lưu giữ
hài cốt con người. Đặc biệt là việc thiêu xác có thể làm cho hài cốt bị co rút
và phân mảnh. Xác có thể được chôn xuống đất ngay sau khi chết, rồi lấy
đá đắp lên thành gò, hoặc đặt lên một cái giàn cho nắng mưa phân hủy. Có
khi dân du mục lẫn dân định cư đều mang xác chết đặt lên một kiểu giàn
nào đó trong một thời gian nếu người chết gặp khi đất đang đóng băng. Sau
đó, người ta mới làm lễ an táng thích hợp cho phần xương cốt còn lại. Tại
một số nghĩa địa, xác chết sau được dồn vào các ngôi mộ cũ, cuối cùng là
một đống xương lẫn lộn. Sự mù mờ còn tăng thêm khi có những cái xác bị
cắt chặt theo các nghi lễ cúng tế, những đồ dùng và quà tặng mang theo
cho người chết, trong đó có xác động vật hoặc người trong gia đình người
chết, và những biến dạng do sự ướp xác tự nhiên hoặc do con người.
Những con vật đào bới hoặc những kẻ cướp mộ cũng có thể quấy phá nơi
chôn xác và làm cho xương không nằm đúng vị trí. Những thảm họa như lũ
lụt, động đất, lở đất, thảm sát, có thể cung cấp thông tin liên quan đến một
nhóm nhiều người trong một thời điểm nào đó.
Mặc dù ngày càng có nhiều kỹ thuật phân tích mới mạnh và hiện đại hơn
được đưa vào phục vụ ngành bệnh học cổ sinh, nhưng vẫn còn nhiều điều
chưa chắc chắn, cho nên tất cả các kết quả vẫn cần phải thận trọng khi diễn
giải. Từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, các nhà khoa học đã sử
dụng các phương pháp mới như khuếch đại và giải trình tự chuỗi DNA,
phân tích các isotope C và N ổn định, và kính hiển vi điện tử quét để đưa ra
những câu hỏi về sức khỏe, cách sống và văn hóa của các dân tộc thời cổ
đại. Kính hiển vi điện tử được sử dụng để khảo sát các dạng răng bị mòn và
ngà răng bị khuyết do stress và rối loạn tăng trưởng, cùng với ảnh hưởng
hệ xương các chi khi làm việc nặng nhọc. Có điều kiện người ta cũng phân
tích hóa học để tìm các yếu tố vi lượng lấy từ xương và tóc con người cổ
đại để hiểu thêm về chế độ ăn và chất lượng đời sống của họ. Chì, thạch
tín, thủy ngân, cadmium, đồng, và strontium là những chất có thể tìm thấy
trong tóc.
Việc phân tích các chất đồng vị ổn định của C và N cũng cho ta biết thêm
về thành phần hóa học của xương và chế độ ăn, bởi vì tỷ số các chất đồng
vị C và N tìm thấy trong xương của người và động vật phản ánh tỷ số các
chất này trong thành phần thực phẩm được tiêu thụ. Từ đó ta có thể ước
tính được tầm quan trọng tương đối của nguồn thực phẩm động vật và thực
vật trong chế độ ăn của người tiền sử. Những sai biệt về tỷ số này trong
xương người qua các thời kỳ khác nhau có thể cho ta biết có sự thay đổi
trong chế độ ăn. Lấy ví dụ, các nhà khoa học xác định được số lượng tương
đối của Carbon 13 và Nitrogen 15 trong xương con người sống trên 20.000
năm trước tại nhiều vùng khác nhau của châu Âu. Các nghiên cứu cho thấy
chế độ ăn gồm nhiều cá, sò, và chim biển. Phân tích các chất đồng vị trong
xương người Neanderthal lại phát hiện điều ngược lại đó là nguồn protein
trong thức ăn của họ chủ yếu có từ thịt của các con mồi động vật lớn hơn.
Ngày nay, và có lẽ trong quá khứ, phần lớn các nhiễm trùng đều nằm ở mô
mềm nhiều hơn là ở xương, nhưng xương và răng là nguồn thông tin bậc
một về bệnh học cổ sinh. Các nhà khoa học có thể nghiên cứu hài cốt bằng
tia X, chụp cắt lớp (CT), phân tích hóa học và nhiều thứ nữa. Xương có thể
cung cấp chứng cứ cho biết tình trạng sức khỏe, bệnh tật, tuổi và nguyên
nhân chết của một người nào đó thời cổ đại.
Các thương tổn đặc thù thấy được trên các hài cốt cổ đại bao gồm gãy
xương, trật khớp, bong gân, đứt dây chằng, bệnh thoái hóa khớp, đoạn chi,
vết thương xuyên thấu, xương mọc gai, cục máu đông bị hóa vôi, vẹo vách
mũi và nhiều thứ khác. Các loại vũ khí được phóng ra như lao và tên, đã
được tìm thấy trên các đốt sống, xương ức, xương bả vai, xương cánh tay
và xương sọ hóa thạch. Nhưng lại ít khi thấy được phần mũi của những thứ
vũ khí này, phần vì có thể đã được các thầy thuốc lấy ra, hoặc nhiều khả
năng nhất là phần chóp gây ra một tổn thương chết người này lại mắc kẹt
trong mô mềm. Trong một số trường hợp sau khi bị các vết thương xuyên
thấu, người bị nạn vẫn sống sót sau một thời gian dài, người ta tìm thấy
những phần chóp này gắn kết như những vật lạ trơ vào phần xương bị
thương tổn.
Trong một số ca thuận lợi, người ta có thể đoán được thể loại tổn thương và
khoảng thời gian trải qua từ lúc bị thương tổn đến lúc chết. Xương thường
liền lại theo các tốc độ có thể dự đoán được. Qua cách sống sót và khỏi
bệnh người ta có thể nghĩ đến các hình thức điều trị, hỗ trợ và chăm sóc
trong thời gian dưỡng bệnh. Một số bộ xương cho thấy những chỗ gãy dẫn
đến hậu quả làm biến dạng xương, gây khó khăn khi đi lại, gây đau đớn
kinh niên, và bệnh thoái hóa khớp. Từ bằng chứng có sự sống sót cho thấy
thời trước cũng có những sự trợ giúp hữu hiệu trong thời kỳ dưỡng bệnh và
sau khi hồi phục. Trong quá trình liền xương, chỗ xương khuyết sẽ được bù
lại bằng xương. Tuy nhiên, đôi khi xương không liền hẳn, mà kèm theo các
biến chứng như viêm xương tủy, làm xương chậm kết nối hay không kết
nối được, chỗ can bị lệch, mọc cựa xương trong mô mềm kề cận, các cục
máu hóa vôi, làm chậm phát triển, xương bị hoại tử vô trùng, can xương
giả tức là mô sợi chen vào chỗ xương gãy và bệnh thoái hóa khớp xương
(viêm khớp sau chấn thương). Xương là một tổ chức mô sống hoạt động
mạnh, luôn luôn thay đổi cho phù hợp với nhu cầu tăng trưởng, và đối với
các stress sinh lý cũng như bệnh lý. Nhiều yếu tố, như tuổi, giới, dinh
dưỡng, nội tiết, di truyền và bệnh tật, tất cả đều ảnh hưởng đến xương. Lao
động nặng hoặc tập luyện quá mức cũng đều dẫn đến hậu quả tăng khối
lượng xương. Các tiến trình thoái hóa sẽ làm thay đổi kích thước, hình
dạng và hình thái của bộ xương cũng như của từng chiếc xương. Bộ xương
có thể bị thay đổi do viêm khớp và do giảm mật độ xương (bệnh loãng
xương).
Bộ xương cũng phụ thuộc vào những thay đổi của môi trường chung
quanh, nhất là với môi trường cơ học tạo ra do sức nặng cơ thể và lực của
các cơ. Hình dạng của một chiếc xương, vì vậy, sẽ ghi lại những lực cơ học
tác động lên nó trong suốt cuộc đời một người. Thường thì các nhà bệnh
học cổ sinh chú ý đến những chiếc xương có dấu hiệu bệnh lý rõ, nhưng
xương bình thường cũng cung cấp bằng chứng về cỡ xương, hành vi, giới
tính, các hoạt động, khối lượng công việc và tư thế của người đó.
Thông thường thì các nhà cổ sinh bệnh họ...
“Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần cũng như
xã hội chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật” (theo Tổ
chức Y tế Thế giới).
Mục đích chủ yếu của tôi khi viết và chỉnh lý quyển sách này là nhằm đưa
ra một bản giới thiệu cập nhật về lịch sử y học. Mặc dù tài liệu lúc đầu vốn
là “một trợ giảng” trong khóa học tổng quan kéo dài một học kỳ của tôi,
nhưng tôi hy vọng rằng ấn bản mới này cũng sẽ nhận được sự quan tâm từ
nhiều đối tượng độc giả, cũng như từ các thầy giáo có ý muốn bổ sung các
nội dung lịch sử môn học cho các môn khoa học hoặc bổ sung nội dung
khoa học vào các môn lịch sử của mình. Cũng như ấn bản trước, tôi cố
gắng hướng sự chú ý của người đọc đến các chủ đề chính trong lịch sử y
học, sự tiến hóa của các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu, cũng
như các quan điểm và giả định khác nhau nhờ đó các thầy thuốc và bệnh
nhân hiểu được sức khỏe, bệnh tật và sự lành bệnh.
Có nhiều đổi thay đã xuất hiện trong lịch sử y học kể từ thập niên 1940
khi Henry E. Sigerist (1891-1957) hô hào cần phải có một hướng đi mới
trong lĩnh vực này, chuyển từ việc nghiên cứu về các thầy thuốc lớn và các
tài liệu của họ sang một quan niệm mới xem lịch sử y học như là lịch sử xã
hội và văn hóa. Từ chỗ hầu như chỉ xoáy vào sự tiến hóa của các lý thuyết
y học hiện đại, các học giả bắt đầu nhắm vào các vấn đề mới liên quan đến
bối cảnh xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị trong đó thầy thuốc và bệnh
nhân đều có vai trò. Do chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi các quan niệm và kỹ
thuật mượn từ ngành xã hội học, tâm lý học, nhân chủng học và dân số học,
các sử gia mới chuyên về các khía cạnh xã hội và văn hóa trong y học nhấn
mạnh đến các yếu tố như chủng tộc, giai cấp, giới tính, cũng như các gắn
kết thuộc về định chế và nghề nghiệp. Vẫn còn một số tranh luận về bản
chất của lĩnh vực này, nhưng thảy đều nhất trí rằng lịch sử y học không chỉ
đơn giản là một câu chuyện kể lại lộ trình đi từ thời tối tăm đến sự khai
sáng của khoa học hiện đại.
Căn cứ vào tính sinh động và đa dạng của lĩnh vực này hiện nay, việc tìm
ra cách thức thỏa đáng để trình bày một đánh giá ở mức sơ đẳng về lịch sử
y học càng ngày càng trở nên khó khăn. Vì thế, cách tiếp cận có chọn lọc,
tức là cách dựa trên sự cân nhắc các nhu cầu và sự quan tâm của độc giả là
những người lần đầu tiếp cận với lĩnh vực này dường như là phù hợp. Vì
thế, tôi đã chọn những ví dụ đặc thù về các lý thuyết, các chứng bệnh, nghề
nghiệp, các thầy thuốc, và các nhà khoa học, và cố gắng sử dụng các ví dụ
này để làm sáng tỏ những chủ đề liên quan đến các vấn đề cơ bản về sức
khỏe, bệnh tật, và lịch sử. Về đại thể, nội dung quyển sách được sắp xếp
theo trình tự thời gian, nhưng chủ yếu dựa trên chủ đề.
Các lý luận và thực tiễn trong y học có thể đưa ra một công cụ nhạy để
thăm dò hệ thống chặt chẽ các tương tác xã hội, cũng như các dấu vết của
sự du nhập, phát tán và cải biến của những ý tưởng và kỹ thuật mới hoặc lạ
lẫm. Các vấn đề y học đều liên quan đến những khía cạnh cơ bản và hiển
hiện nhất của mọi xã hội - sức khỏe và bệnh tật, sung túc và nghèo đói, sự
ra đời, quá trình lão hóa, tàn tật, khổ ải và chết chóc. Bất kỳ ai trong mọi
thời kỳ của lịch sử cũng đều phải đối phó với vấn đề sinh đẻ, bệnh tật, chấn
thương, và sự đau đớn. Vì thế, những biện pháp được phát triển để chữa
lành tâm thần và thể xác sẽ là tâm điểm đáng giá để khảo sát các nền văn
hóa và hoàn cảnh khác nhau. Có thể sự thâm nhập vào lịch sử y học sẽ
mang lại cho ta một sự gần gũi với người bệnh và người chữa bệnh trong
quá khứ và hiện tại, một ý thức khiêm tốn khi đứng trước bệnh tật và thiên
nhiên và một cách tiếp cận có cân nhắc đối với các vấn đề y học hiện nay
của chúng ta.
Lịch sử y học có thể rọi sáng các quy luật biến đổi của y tế và bệnh tật,
cũng như những vấn đề về hành nghề y, sự chuyên nghiệp hóa, các định
chế, việc đào tạo, chi phí y tế, chẩn đoán và điều trị. Kể từ cuối thế kỷ 19,
các ngành y sinh học đã phát triển mạnh mẽ khi đi theo cái gọi là “tín điều
về từng bệnh nguyên học cụ thể” - tức là, cái quan niệm cho rằng nếu chúng
ta hiểu được tác nhân gây bệnh của một chứng bệnh, hoặc là các biến cố
phân tử chuyên biệt của một tiến trình bệnh lý, thì chúng ta hoàn toàn có thể
hiểu được và khống chế được bệnh đó. Quan điểm này bỏ qua không nhắc
đến những khía cạnh xã hội, đạo đức, kinh tế và địa lý-chính trị phức tạp
của bệnh tật trong một thế giới càng ngày càng trở nên gần gũi nhiều hơn
nhờ các phương tiện giao thông và liên lạc hiện đại, nhưng đồng thời cũng
bị chia tách ngày càng rộng hơn vì những khác biệt giữa sự giàu có và
nghèo đói.
Các cuộc tranh luận công khai về y học ngày nay dường như hiếm khi đề
cập đến những chủ đề cơ bản về nghệ thuật và khoa học của y học; thay
vào đó, là những vấn đề được đem ra mổ xẻ dằng dai nhất lại liên quan đến
chi phí chăm sóc y tế, có hay không có các dịch vụ, khả năng tiếp cận các
dịch vụ đó, tính công bằng và trách nhiệm. Những so sánh giữa các hệ
thống y tế của nhiều quốc gia khác nhau cho thấy rằng mặc dù có sự khác
biệt về hình thức, triết lý, cách tổ chức, và các mục tiêu, nhưng tất cả đều bị
sức ép do chi phí ngày càng tăng và những kỳ vọng và áp lực trên các
nguồn lực ít ỏi hoặc hạn hẹp. Các viên chức chính phủ, các nhà phân tích
chính sách và những người làm công tác chuyên môn trong ngành y ngày
càng tập trung công sức và mối quan tâm của mình nhiều hơn vào các biện
pháp kìm hãm chi phí. Hiếm khi có ai thử đặt lại vấn đề là ngành y nói
chung như thế nào xét về các chủ đề được các nhà dân số học, dịch tễ học
và sử gia nêu ra cũng như về giá trị tương đối của nền y học hiện đại và
những cải cách có cơ sở rộng lớn hơn về mặt môi trường và hành vi có thể
ảnh hưởng mạnh mẽ lên các mô thức mắc bệnh và tử vong.
Những người hoài nghi nói rằng, dường như chúng ta đã đánh đổi các bệnh
dịch của một thế hệ này để lấy dịch bệnh của một thế hệ khác. Ít nhất, tại
những nơi giàu có, công nghiệp hóa nhiều hơn trên thế giới, mô hình bệnh
tật phổ biến đã chuyển từ một dạng trong đó nguyên nhân tử vong là các
bệnh truyền nhiễm sang một dạng khác với các bệnh thoái hóa và mạn tính
chiếm đa số, kết hợp với một sự chuyển đổi nhân khẩu học của một thời đại
có tỷ lệ tử vong ở trẻ còn bú cao sang một thời đại mà tuổi thọ tăng và một
dân số ngày càng già cỗi. Kể từ cuối thế kỷ 19, chúng ta thấy có một sự
chuyển đổi rõ rệt từ một thời kỳ trong đó việc dự phòng khá tốn kém
(chẳng hạn như việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải) và việc điều trị về cơ
bản là không tốn kém (ví dụ như trích huyết và xổ ruột) sang một thời kỳ
trong đó chi phí điều trị rất cao (ví dụ các thủ thuật bắt cầu mạch vành) và
dự phòng ít tốn kém (như tập thể dục và chế độ ăn ít cholesterol). Sau
nhiều năm tán dương các thành quả thấy được của ngành khoa học y sinh,
điển hình là những đóng góp như vaccine, kỹ thuật gây mê/gây tê, thuốc
insulin, ghép tạng, và niềm hy vọng rằng các bệnh dịch sẽ theo chân bệnh
đậu mùa đi vào quên lãng, thì nay những vấn đề nhức nhối và sâu xa lại
được nêu ra về sự cách biệt giữa các chi phí của nền y học hiện đại và vai
trò mà y học quyết định các kiểu mắc bệnh và tử vong về mặt lịch sử và
toàn cầu. Khi phân tích cẩn thận vai trò của y học, các yếu tố môi trường và
xã hội trong việc quyết định sức khỏe của người dân, người ta thấy rằng kỹ
thuật y học không phải là bài thuốc bá bệnh cho bệnh cấp tính gây dịch
hoặc bệnh mạn tính và bệnh địa phương.
Một mô tả khái quát về lịch sử y học sẽ củng cố nguyên tắc cơ bản là nếu
chỉ riêng một mình y học thì sẽ không bao giờ là giải pháp cho những điều
bất hạnh của cá nhân hoặc những điều bất hạnh của xã hội, nhưng con
người chưa bao giờ từ bỏ việc trông chờ vào các nghệ thuật chữa bệnh để
tập trung vào những cách điều trị, an ủi, cải thiện, giảm nhẹ bệnh tật, và
phục hồi. Có lẽ khi hiểu rõ hơn các quan niệm trước đây về sức khỏe, sự
lành bệnh và bệnh tật sẽ giúp cho ta nhận ra nguồn gốc các vấn đề hiện tại
với những giới hạn và trở ngại cố hữu của các quan niệm hiện hành.
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng cảm kích sâu sắc đối với John
Parascandola và Ann Carmichael qua những lời góp ý, phê bình vô giá và
sự khích lệ của họ trong khi chuẩn bị bản in lần thứ nhất của quyển sách
này. Dĩ nhiên, tất cả những sai sót còn lại do thiếu sót và vấp váp đều là của
tôi. Tôi cũng xin hết sức cám ơn các sinh viên dự khóa học, đọc các sách do
tôi viết, và báo cho tôi biết phần nào rõ ràng và phần nào còn tối nghĩa. Tôi
cũng xin cám ơn Bộ phận Lịch sử Y học thuộc Thư viện Quốc gia (Hoa Kỳ)
về Y học đã cung cấp các tài liệu minh họa sử dụng trong sách này và cám
ơn Tổ chức Y tế Thế giới về bức ảnh ca bệnh đậu mùa cuối cùng tại tiểu lục
địa Ấn Độ. Tôi cũng xin cám ơn công ty Marcel Dekker, Inc. đã mời tôi
chuẩn bị ấn bản lần thứ hai của quyển Lịch sử Y học.
Lois N. Magner
1
Bệnh lý họ c và Y học cổ sinh
DẪN NHẬP
Một trong những huyền thoại lôi cuốn và vương vấn chúng ta nhất là huyền
thoại thời Hoàng kim, thời đại trước khi phát hiện cái tốt và cái xấu, khi cái
chết và bệnh tật chưa ra đời. Thế nhưng, bằng chứng khoa học - tuy ít ỏi,
manh mún, và dù nhiều khi còn mang tính thách đố - lại chứng minh rằng
bệnh tật xuất hiện trước loài người từ lâu và không phải là hiếm hoi đối với
các loài khác. Thật vậy, những nghiên cứu trên các hóa thạch cổ, các bộ
xương của các bộ sưu tập trong viện bảo tàng, động vật trong sở thú và ở
ngoài hoang dã cho thấy rằng chứng viêm khớp khá phổ biến đối với
những loài động vật có vú trung bình và lớn, kể cả con lợn đất (aardvarks)
chuyên ăn kiến, và linh dương gazel. Bằng chứng nhiễm trùng được tìm
thấy trong xương của các động vật thời tiền sử, và trong mô mềm của các
xác ướp. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại phát hiện được bằng
chứng u bướu trong các hài cốt hóa thạch. Lấy ví dụ, các nhà nghiên cứu
chụp CT hộp sọ của một con khủng long bạo chúa (gorgosaurus) 72 triệu
năm đã phát hiện một u não có khả năng làm cho con vật mất thăng bằng
và chuyển dịch khó khăn. Những bất thường khác trên mẫu nghiên cứu cho
thấy con vật bị gãy xương đùi, xương ống chân và xương vai.
Như vậy, việc hiểu được kiểu thức bệnh tật tấn công các bậc tổ tiên tiền sử
của chúng ta đòi hỏi ta phải có cách nhìn của các nhà bệnh lý học cổ sinh
(paleopathologist). Marc Armand Ruffer (1859-1917), một trong những
người sáng lập môn bệnh lý học cổ sinh, đã định nghĩa đây là khoa học về
những bệnh có thể chứng minh qua hài cốt động vật thời cổ đại. Môn bệnh
học cổ sinh cung cấp các thông tin về sức khỏe, bệnh tật, tử vong, môi
trường và văn hóa của các quần thể cổ đại.
Để tìm hiểu vấn đề bệnh giữa những con người thời cổ đại, chúng ta cần
khảo sát một số mặt về sự tiến hóa con người, về mặt sinh học lẫn văn hóa.
Trong quyển sách Sự Xuất hiện của Con người và sự Chọn lọc dựa theo
quan hệ giới tính (Descent of Man and Selection in Relation to Sex (1871)),
Charles Darwin cho rằng con người cũng giống như các loài khác, đều phát
triển từ những dạng sống trước đó qua hình thức chọn lọc tự nhiên. Theo
Darwin, tất cả các bằng chứng hiện có cho thấy rằng “con người có dòng
dõi từ động vật 4 chân, có lông, có đuôi, có lẽ có thói quen sống trên cây”.
Mặc dù không có nhiều bằng chứng, nhưng Darwin cho rằng tổ tiên xa xưa
của con người hiện đại có họ hàng với khỉ đột (gorilla) và tinh tinh
(chimpanzee). Ngoài ra, ông còn tiên đoán rằng những con người đầu tiên
có lẽ đã tiến hóa ở châu Phi. Các bằng chứng đi từ nghiên cứu các hóa
thạch, địa tầng và sinh học phân tử cho thấy rằng sự tách rời giữa con
người với khỉ đã xảy ra tại châu Phi từ 5 đến 8 triệu năm trước đây.
Các hài cốt hóa thạch của tổ tiên con người cung cấp cho ta các đầu mối
giá trị về quá khứ, nhưng những hóa thạch như thế còn rất ít và thường là
không đầy đủ. Nhà nghiên cứu giải phẫu học người Nam Phi Raymond
Dart, đã có một phát hiện đầy ý nghĩa đầu tiên về tổ tiên con người tại châu
Phi vào những năm 1920, khi ông xác định các hóa thạch nổi tiếng là người
vượn Nam Phi (Australopithecus africanus). Những phát hiện hứng thú
nhất trong thế kỷ 20 sau đó về tổ tiên con người cổ đại có liên quan đến
công trình của vợ chồng Louis và Mary Leakey và của Donald Johanson.
Làm việc chủ yếu tại các địa điểm thuộc hẻm núi Olduvai và Laetoli tại
Tanzania, Mary và Louis Leakey tìm thấy nhiều hóa thạch hominid (vượn
người), trong đó có Australopithecus boisei và Homo habilis. Phát hiện
quan trọng nhất của Johanson là một bộ xương còn nguyên vẹn một cách
bất thường của giống australopithecine sơ khai (Australopithecus
afarensis), thường được gọi là Lucy. Các hài cốt giống hominid mới được
phát hiện vào đầu thế kỷ 21 đã thúc đẩy nhiều cuộc tranh luận sâu hơn về
các tổ tiên hominid thời cổ đại cũng như tổ tiên của loài tinh tinh
(chimpanzee).
Ngành nhân loại học cổ sinh là một lĩnh vực trong đó các phát hiện mới
chắc chắn sẽ dẫn tới việc rà soát lại những phát hiện trước đó cùng với nhiều
tranh luận kịch liệt về nguồn gốc và phân loại của mấy mẫu răng và xương
nhỏ xíu. Những phát hiện mới hơn chắc chắn sẽ bổ sung nhiều kiến thức về
lịch sử tiến hóa con người và cũng làm nổ ra nhiều tranh cãi giữa các nhà
nhân loại học cổ sinh. Các nhà khoa học cũng thừa nhận rằng các bệnh thuộc
bệnh học cổ sinh giả cũng có thể làm cho người ta hiểu nhầm và diễn giải sai
bởi vì tuy chúng rất giống với những thương tổn do bệnh, nhưng thực ra đó
chỉ là những quá trình sau khi chết. Lấy ví dụ, do các thành phần muối cơ
bản trong xương đều dễ hòa tan trong nước, cho nên các loại đất dễ làm mất
đi chất calcium sẽ khiến cho xương bị thay đổi giống như tổn thương do
loãng xương. Mặc dù lắm điểm còn mơ hồ trong các hài cốt cổ xưa, nhưng
các phương pháp bệnh học cổ sinh có thể phát hiện ra dấu hiệu của bệnh và
chấn thương trên những hài cốt này.
Các kiến thức từ nhiều ngành học khác nhau, như khảo cổ, địa lý học lịch
sử, hình thái học, giải phẫu học so sánh, phân loại học, di truyền học và
sinh học phân tử đều giúp cho chúng ta hiểu nhiều hơn về sự tiến hóa của
con người. Những thay đổi trong DNA, kho lưu trữ các tài liệu về phả hệ
con người, đã được sử dụng để xây dựng lại cây phả hệ, gia đình và các
kiểu di dân thời xa xưa. Một số gene có thể làm rõ sự khác biệt quan trọng
giữa con người và các loài linh trưởng khác, chẳng hạn như khả năng diễn
đạt ngôn ngữ thành lời.
Về mặt giải phẫu học mà nói thì con người chỉ mới xuất hiện khoảng
130.000 năm trước đây, nhưng con người hiện đại đúng nghĩa, có được các
hoạt động phức tạp, chẳng hạn như chế tạo ra các công cụ phức tạp, các tác
phẩm nghệ thuật, giao thương đường dài, dường như chỉ mới có trong các
tài liệu khảo cổ chừng 50.000 năm nay mà thôi. Tuy vậy, mối liên hệ giữa
con người và các dòng hominid đã tuyệt giống vẫn còn là vấn đề tranh cãi.
Thời đồ đá cũ, thời điểm mà những bước quan trọng nhất trong sự tiến hóa
văn hóa xuất hiện, lại trùng hợp với kỷ địa chất Pleistocene (Kỷ băng hà
lớn), vốn đã chấm dứt khoảng 10.000 năm trước đây với sự thoái lui cuối
cùng của các băng hà. Những con người cổ đại là người săn bắt -hái lượm,
tức là các động vật ăn tạp có cơ hội học cách làm ra công cụ, xây dựng chỗ
trú ẩn, mang vác và chia sẻ thức ăn và xây dựng các cấu trúc xã hội mang
tính độc đáo con người. Mặc dù trong thời đồ đá cũ con người mới chỉ sản
xuất được các công cụ thô sơ bằng xương và đá ghè, và chưa có các vật
dụng bằng gốm và kim loại, nhưng con người vào thời kỳ này cũng đã tạo
ra được các bức vẽ ngoạn mục trong hang Lascaux (Pháp) và Altamira
(Tây Ban Nha). Cũng có khả năng là họ cũng có các phát minh hữu ích
nhưng lại dễ bị phân hủy sinh học, cho nên không còn lưu được dấu vết gì
trên các hóa thạch. Thật vậy, trong thập niên 1960, các nhà khoa học có
khuynh hướng bảo vệ nữ quyền đã cật vấn những giả định hiện nay về tầm
quan trọng của sự săn bắt có phải đúng là cách thức kiếm thức ăn của con
người săn bắt-hái lượm. Có lẽ các hạt, quả, rau quả hoang dại và các thú
nhỏ do phụ nữ hái lượm đã góp phần đáng kể trong chế độ ăn của người
thời đồ đá cũ. Hơn thế nữa, do phụ nữ thường phải chăm sóc con nhỏ, cho
nên có thể họ sáng tạo ra những cây gậy có thể dùng để đào lỗ, các thứ túi
để mang và cất giữ thức ăn.
Cuộc cách mạng thời đồ đá mới là sự chuyển đổi sang một hình thức sản
xuất lương thực mới qua canh tác và chăn nuôi. Con người thời đồ đá mới
chế tạo các đồ dùng như đan giỏ, làm đồ gốm, đánh sợi và dệt vải. Mặc dù
không có công trình nghệ thuật nào trong thời kỳ này được coi là đặc sắc
như các bức tranh trong hang động thời đồ đá cũ ở Pháp và Tây Ban Nha,
con người thời đồ đá mới đã sản xuất ra các tác phẩm điêu khắc, tượng nhỏ
và đồ gốm đầy thú vị.
Nếu lúc trước các nhà khảo cổ và nhân chủng học bị ám ảnh với câu hỏi là
lối sống nông nghiệp có từ đâu và bao giờ, thì giờ đây họ quan tâm nhiều
hơn tới câu hỏi vì sao và như thế nào. Các nhà nhân chủng học thế kỷ thứ
19 thường xếp đặt các nền văn hóa con người vào một loạt các giai đoạn
tiến triển đi lên qua các loại công cụ được chế tạo và phương cách sản xuất
lương thực. Kể từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, các phương pháp phân tích
mới cho phép kiểm tra các giả thiết về sự biến đổi khí hậu và môi trường và
ảnh hưởng của chúng đến các nguồn lương thực. Khi một ý tưởng lý giải
sự tiến bộ được đưa ra phân tích cặn kẽ thay vì được chấp nhận một cách
đương nhiên, thì các nguyên nhân của sự chuyển đổi ở thời đồ đá mới
không còn được coi là sáng tỏ như lúc trước nữa. Căn cứ trên thực tế những
người săn bắt-hái lượm có thể có một chế độ ăn uống khá hơn và sống an
nhàn hơn những người canh tác nông nghiệp, dù là ở thời tiền sử hoặc thời
hiện đại, thì những lợi điểm của cuộc sống ổn định chỉ có đối với những ai
đã an cư và ăn uống dư dả. Nguồn thực phẩm có được đối với những người
săn bắt-hái lượm tuy có phong phú hơn so với thực phẩm của người làm
nông nghiệp, nhưng thực ra vẫn là bấp bênh và không chắc chắn.
Những nghiên cứu gần đây về nguồn gốc nông nghiệp cho thấy rằng nông
nghiệp hầu như đã ra đời trong khoảng từ 10.000 đến 20.000 năm trước
đây, chủ yếu là để đối phó với các áp lực do phát triển dân số sinh ra. Khi
so sánh sức khỏe của những người hái lượm và các nông dân an cư, các
nhà bệnh học cổ sinh thường thấy rằng sự phụ thuộc vào việc trồng trọt
một loại cây lương thực sẽ làm cho dân chúng sẽ có mức dinh dưỡng kém
đi so với những người săn bắt-hái lượm, thông qua chiều cao, mức độ lực
lưỡng, sức khỏe của hàm răng, và nhiều thứ nữa. Trong các xã hội nông
nghiệp, đáy của tam giác thực phẩm trở nên nhỏ hơn khi con người chỉ
canh tác một vài loại hoặc thậm chí một loại cây lương thực. Vì thế, nguồn
thực phẩm có thể đầy đủ về số lượng và calorie, nhưng lại thiếu các
vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, việc thuần hóa động vật dường như đã
cải thiện được tình trạng dinh dưỡng và dân số thời cổ đại. Mặc dù toàn bộ
dân số rõ ràng là đã tăng rất chậm trước khi con người chọn việc canh tác,
nhưng sau đó lại tăng lên rất nhanh. Trong các xã hội du mục, do thời gian
cho con bú kéo dài cùng với những cấm kị giao hợp sau khi sinh đã làm
giãn thời gian giữa hai lần sinh. Đời sống làng mạc đã làm cho phụ nữ thôi
cho con bú sớm và thời gian giữa hai lần sinh ngắn lại. Những thay đổi có
tính cách mạng trong môi trường vật lý và xã hội cùng với sự chuyển dịch
từ lối sống của các nhóm nhỏ dân cư săn bắt-hái lượm đi lang thang đến lối
sống định cư của những nhóm dân tương đối đông đúc cũng tạo nên những
thay đổi lớn về các kiểu bệnh tật. Nơi ở lâu dài, với vườn tược, đồng ruộng
làm phát sinh ra những ổ chứa thuận tiện cho các ký sinh trùng, côn trùng
và loài gặm nhấm. Thực phẩm để trong kho cũng có thể bị hỏng, kéo theo
các sâu hại, và bị nhiễm bẩn với những thứ như chất thải của loài gặm
nhấm, côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc và các độc tố. Canh tác nông nghiệp
làm tăng số lượng calorie sản xuất trên mỗi đơn vị đất đai, nhưng đồng thời
làm cho chế độ ăn dựa quá nhiều vào ngũ cốc nhưng có thể không đầy đủ
về protein, vitamin và chất khoáng.
Do không hoạt động nhiều và không có nhiều tài nguyên đa dạng như
những người săn bắt-hái lượm, cho nên đám dân định cư dễ bị ảnh hưởng
khi mùa màng thất bát, đói kém. Những vụ đói kém tại một vùng nào đó có
thể khiến cho người dân phải bỏ xứ ra đi đến những nơi khác đồng thời cũng
mang theo các ký sinh trùng và tác nhân gây bệnh cho người dân và nơi cư
trú mới. Điều khôi hài là việc quá lo nghĩ về chế độ ăn hiện đại có chứa
nhiều thành phần không tự nhiên đã trở nên rất thịnh hành, khiến người dân
tại các quốc gia giàu có nhất giờ đây lại có ý tưởng ngược đời là quay lại với
chế độ ăn của con người cổ đại hoặc thậm chí chế độ ăn của những loài linh
trưởng hoang dã. Trên thực tế, nguồn thức ăn của những con người tiền sử
vốn không hề dư dả, lại đơn điệu, tồi tàn và bẩn thỉu.
NGÀNH BỆNH HỌC CỔ SINH:
PHƯƠNG PHÁP VÀ VẤN ĐỀ
Do bằng chứng trực tiếp về bệnh tật của con người cổ đại còn rất hạn chế,
cho nên ta phải tìm một loạt các phương pháp gián tiếp để có được một cái
nhìn sơ lược về thế giới tiền sử. Lấy ví dụ, những nghiên cứu về sinh vật
họ hàng gần gũi nhất của chúng ta, loài khỉ nhân hình và khỉ, đã cho thấy là
sống theo kiểu tự nhiên không hẳn là sẽ không mắc bệnh. Các loài linh
trưởng hoang dã bị rất nhiều bệnh, như viêm khớp, sốt rét, thoát vị bẹn,
bệnh ký sinh trùng và răng đâm vào nhau. Tổ tiên chúng ta, những “con khỉ
nhân hình trụi lông” đầu tiên, được cho là đã nếm mùi các bệnh tật tương
tự như những bệnh tật xảy ra ở các loài linh trưởng hiện nay trong quãng
đời quả là “bẩn thỉu, thô lậu và ngắn ngủi”. Tuy vậy, con người tiền sử dần
dần học được cách thích ứng với các môi trường khắc nghiệt, vốn chẳng hề
giống với cảnh Vườn Địa Đàng trong thần thoại. Mãi về sau, qua sự tiến
hóa văn hóa, con người mới thay biến đổi môi trường của mình theo những
cách chưa hề có tiền lệ, ngay cả khi họ phải phụ thuộc vào môi trường đó.
Khi thuần hóa các động vật, vận dụng thành thục các kỹ thuật canh tác, và
xây dựng nên những nơi định cư đông đúc, con người cũng tạo ra những
dạng bệnh tật mới.
Các nhà bệnh học cổ sinh phải sử dụng đến các bằng chứng sơ cấp và thứ
cấp để rút ra các dẫn liệu về các dạng bệnh tật thời tiền sử. Bằng chứng sơ
cấp bao gồm cơ thể, xương, răng, tro và các phần còn lại của cơ thể đã khô
hoặc cháy thành than tại những nơi chôn xác người vô tình hoặc có chủ ý.
Các nguồn bằng chứng thứ cấp bao gồm nghệ thuật, đồ tạo tác, đồ tùy táng
của những con người thời chưa có chữ viết, và các tài liệu cổ mô tả hoặc
gợi ý sự hiện diện các tình trạng bệnh học. Các tài liệu có được qua những
nghiên cứu như trên còn rất sơ sài, và do đa số chỉ là những phần cứng của
cơ thể - như xương và răng - rõ ràng là đã cho ta một hình ảnh méo mó của
quá khứ.
Thật vậy, do rất ít có khả năng đạt tới một chẩn đoán chính xác khi nghiên
cứu các di vật xa xưa cho nên một số học giả nhấn mạnh rằng không nên
gán tên của các bệnh hiện nay cho các phát hiện của thời xa xưa. Những
chuyên gia khác lại cứ đưa những bệnh tật thời đồ đá cũ vào cách phân loại
hệ thống hóa hiện tại như các dị tật bẩm sinh, tổn thương, nhiễm trùng, các
bệnh thoái hóa, ung thư, bệnh do thiếu chất, và thậm chí những bệnh chưa
rõ nguyên nhân là nhóm khá rộng.
Tuy nhiên, khi kết hợp các kỹ thuật cổ điển với hiện đại, các nhà khoa học
có thể qua những bằng chứng manh mún này mà gặt hái được những kiến
thức mới về cuộc đời của con người thời cổ đại. Có thể gọi một ngành học
nghiên cứu các di vật con người qua phương pháp khảo cổ là ngành khảo
cổ học sinh học, là một lĩnh vực kết hợp giữa ngành khảo cổ học và nhân
chủng học cơ thể (physical anthropology).
Các phong tục tang lễ, cách thức táng, các điều kiện môi trường chẳng hạn
như nóng, ẩm, thành phần của đất, đều ảnh hưởng đến tình trạng lưu giữ
hài cốt con người. Đặc biệt là việc thiêu xác có thể làm cho hài cốt bị co rút
và phân mảnh. Xác có thể được chôn xuống đất ngay sau khi chết, rồi lấy
đá đắp lên thành gò, hoặc đặt lên một cái giàn cho nắng mưa phân hủy. Có
khi dân du mục lẫn dân định cư đều mang xác chết đặt lên một kiểu giàn
nào đó trong một thời gian nếu người chết gặp khi đất đang đóng băng. Sau
đó, người ta mới làm lễ an táng thích hợp cho phần xương cốt còn lại. Tại
một số nghĩa địa, xác chết sau được dồn vào các ngôi mộ cũ, cuối cùng là
một đống xương lẫn lộn. Sự mù mờ còn tăng thêm khi có những cái xác bị
cắt chặt theo các nghi lễ cúng tế, những đồ dùng và quà tặng mang theo
cho người chết, trong đó có xác động vật hoặc người trong gia đình người
chết, và những biến dạng do sự ướp xác tự nhiên hoặc do con người.
Những con vật đào bới hoặc những kẻ cướp mộ cũng có thể quấy phá nơi
chôn xác và làm cho xương không nằm đúng vị trí. Những thảm họa như lũ
lụt, động đất, lở đất, thảm sát, có thể cung cấp thông tin liên quan đến một
nhóm nhiều người trong một thời điểm nào đó.
Mặc dù ngày càng có nhiều kỹ thuật phân tích mới mạnh và hiện đại hơn
được đưa vào phục vụ ngành bệnh học cổ sinh, nhưng vẫn còn nhiều điều
chưa chắc chắn, cho nên tất cả các kết quả vẫn cần phải thận trọng khi diễn
giải. Từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, các nhà khoa học đã sử
dụng các phương pháp mới như khuếch đại và giải trình tự chuỗi DNA,
phân tích các isotope C và N ổn định, và kính hiển vi điện tử quét để đưa ra
những câu hỏi về sức khỏe, cách sống và văn hóa của các dân tộc thời cổ
đại. Kính hiển vi điện tử được sử dụng để khảo sát các dạng răng bị mòn và
ngà răng bị khuyết do stress và rối loạn tăng trưởng, cùng với ảnh hưởng
hệ xương các chi khi làm việc nặng nhọc. Có điều kiện người ta cũng phân
tích hóa học để tìm các yếu tố vi lượng lấy từ xương và tóc con người cổ
đại để hiểu thêm về chế độ ăn và chất lượng đời sống của họ. Chì, thạch
tín, thủy ngân, cadmium, đồng, và strontium là những chất có thể tìm thấy
trong tóc.
Việc phân tích các chất đồng vị ổn định của C và N cũng cho ta biết thêm
về thành phần hóa học của xương và chế độ ăn, bởi vì tỷ số các chất đồng
vị C và N tìm thấy trong xương của người và động vật phản ánh tỷ số các
chất này trong thành phần thực phẩm được tiêu thụ. Từ đó ta có thể ước
tính được tầm quan trọng tương đối của nguồn thực phẩm động vật và thực
vật trong chế độ ăn của người tiền sử. Những sai biệt về tỷ số này trong
xương người qua các thời kỳ khác nhau có thể cho ta biết có sự thay đổi
trong chế độ ăn. Lấy ví dụ, các nhà khoa học xác định được số lượng tương
đối của Carbon 13 và Nitrogen 15 trong xương con người sống trên 20.000
năm trước tại nhiều vùng khác nhau của châu Âu. Các nghiên cứu cho thấy
chế độ ăn gồm nhiều cá, sò, và chim biển. Phân tích các chất đồng vị trong
xương người Neanderthal lại phát hiện điều ngược lại đó là nguồn protein
trong thức ăn của họ chủ yếu có từ thịt của các con mồi động vật lớn hơn.
Ngày nay, và có lẽ trong quá khứ, phần lớn các nhiễm trùng đều nằm ở mô
mềm nhiều hơn là ở xương, nhưng xương và răng là nguồn thông tin bậc
một về bệnh học cổ sinh. Các nhà khoa học có thể nghiên cứu hài cốt bằng
tia X, chụp cắt lớp (CT), phân tích hóa học và nhiều thứ nữa. Xương có thể
cung cấp chứng cứ cho biết tình trạng sức khỏe, bệnh tật, tuổi và nguyên
nhân chết của một người nào đó thời cổ đại.
Các thương tổn đặc thù thấy được trên các hài cốt cổ đại bao gồm gãy
xương, trật khớp, bong gân, đứt dây chằng, bệnh thoái hóa khớp, đoạn chi,
vết thương xuyên thấu, xương mọc gai, cục máu đông bị hóa vôi, vẹo vách
mũi và nhiều thứ khác. Các loại vũ khí được phóng ra như lao và tên, đã
được tìm thấy trên các đốt sống, xương ức, xương bả vai, xương cánh tay
và xương sọ hóa thạch. Nhưng lại ít khi thấy được phần mũi của những thứ
vũ khí này, phần vì có thể đã được các thầy thuốc lấy ra, hoặc nhiều khả
năng nhất là phần chóp gây ra một tổn thương chết người này lại mắc kẹt
trong mô mềm. Trong một số trường hợp sau khi bị các vết thương xuyên
thấu, người bị nạn vẫn sống sót sau một thời gian dài, người ta tìm thấy
những phần chóp này gắn kết như những vật lạ trơ vào phần xương bị
thương tổn.
Trong một số ca thuận lợi, người ta có thể đoán được thể loại tổn thương và
khoảng thời gian trải qua từ lúc bị thương tổn đến lúc chết. Xương thường
liền lại theo các tốc độ có thể dự đoán được. Qua cách sống sót và khỏi
bệnh người ta có thể nghĩ đến các hình thức điều trị, hỗ trợ và chăm sóc
trong thời gian dưỡng bệnh. Một số bộ xương cho thấy những chỗ gãy dẫn
đến hậu quả làm biến dạng xương, gây khó khăn khi đi lại, gây đau đớn
kinh niên, và bệnh thoái hóa khớp. Từ bằng chứng có sự sống sót cho thấy
thời trước cũng có những sự trợ giúp hữu hiệu trong thời kỳ dưỡng bệnh và
sau khi hồi phục. Trong quá trình liền xương, chỗ xương khuyết sẽ được bù
lại bằng xương. Tuy nhiên, đôi khi xương không liền hẳn, mà kèm theo các
biến chứng như viêm xương tủy, làm xương chậm kết nối hay không kết
nối được, chỗ can bị lệch, mọc cựa xương trong mô mềm kề cận, các cục
máu hóa vôi, làm chậm phát triển, xương bị hoại tử vô trùng, can xương
giả tức là mô sợi chen vào chỗ xương gãy và bệnh thoái hóa khớp xương
(viêm khớp sau chấn thương). Xương là một tổ chức mô sống hoạt động
mạnh, luôn luôn thay đổi cho phù hợp với nhu cầu tăng trưởng, và đối với
các stress sinh lý cũng như bệnh lý. Nhiều yếu tố, như tuổi, giới, dinh
dưỡng, nội tiết, di truyền và bệnh tật, tất cả đều ảnh hưởng đến xương. Lao
động nặng hoặc tập luyện quá mức cũng đều dẫn đến hậu quả tăng khối
lượng xương. Các tiến trình thoái hóa sẽ làm thay đổi kích thước, hình
dạng và hình thái của bộ xương cũng như của từng chiếc xương. Bộ xương
có thể bị thay đổi do viêm khớp và do giảm mật độ xương (bệnh loãng
xương).
Bộ xương cũng phụ thuộc vào những thay đổi của môi trường chung
quanh, nhất là với môi trường cơ học tạo ra do sức nặng cơ thể và lực của
các cơ. Hình dạng của một chiếc xương, vì vậy, sẽ ghi lại những lực cơ học
tác động lên nó trong suốt cuộc đời một người. Thường thì các nhà bệnh
học cổ sinh chú ý đến những chiếc xương có dấu hiệu bệnh lý rõ, nhưng
xương bình thường cũng cung cấp bằng chứng về cỡ xương, hành vi, giới
tính, các hoạt động, khối lượng công việc và tư thế của người đó.
Thông thường thì các nhà cổ sinh bệnh họ...
 





