DANH NGÔN HAY

“Vào khoảnh khắc mà chúng ta quyết thuyết phục đứa trẻ, bất cứ đứa trẻ nào, bước qua bậc thềm ấy, bậc thềm màu nhiệm dẫn vào thư viện, ta thay đổi cuộc sống của nó mãi mãi, theo cách tốt đẹp hơn.” - Barack Obama

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

LIÊN KẾT CỔNG THÔNG TIN- HỌC LIỆU SỐ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5343030829092_e1208e44509de7d3c27ccd285e86c117.jpg Z5343030073391_588736bdb53d6da114d0b14d0b10947f.jpg Z5355883614387_dd02a473f709fc300ee9ab4077f2bcea.jpg Z5343227449195_71a8002a3e6e4d6e98fffff8e0888a6a.jpg Z5343030824110_5c48118b41ba3ef9264c8955f1b959e1.jpg Z5355874475374_b1377c2832dbd952b9416721f3279ea4.jpg Z5343030069708_97656d40f10f15507d913b4357967166.jpg Z5343030838706_ef40bda474dbfb39a6aae0e5a4921553.jpg Z5355883524448_0e06958f362f4c17eb345782d9743350.jpg Z5343711918955_d0545231ce01032ac8a951c824e02a57.jpg Z5355883522918_40843db1b9d5055c29691eb96f00c9c2.jpg Z5355883606811_1128f04f2228076434d42ecc671b426d.jpg Z5355883578364_a56096dfc89bc974f3a0e556f70741c2.jpg Z5355883573437_18a05627344eab33f9d9135d70fa0fd3.jpg Z5355883561104_2d1c8eb3776a8ea90192efed64a2308f.jpg Z5343029994119_89daf6d4094a9e3af48778d75da9d1ab.jpg Z5343030079902_6f5a2e4041d24ac49359190e9a267d66.jpg Z5343030049738_c82c90e6f4307b633a7aeb56d64da1f9.jpg Z5343030040363_7abee3120919c79cdcb51f50e37fd5a0.jpg Z5343030038759_4e5cf7aad7f8ee48c004a23a422351c5.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    Thư viện Trường Tiểu học Thiệu Khánh

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Lịch sử Y Học

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Sinh
    Ngày gửi: 17h:05' 08-04-2024
    Dung lượng: 8.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Lời nói đầu
    “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần cũng như
    xã hội chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật” (theo Tổ
    chức Y tế Thế giới).

    Mục đích chủ yếu của tôi khi viết và chỉnh lý quyển sách này là nhằm đưa
    ra một bản giới thiệu cập nhật về lịch sử y học. Mặc dù tài liệu lúc đầu vốn
    là “một trợ giảng” trong khóa học tổng quan kéo dài một học kỳ của tôi,
    nhưng tôi hy vọng rằng ấn bản mới này cũng sẽ nhận được sự quan tâm từ
    nhiều đối tượng độc giả, cũng như từ các thầy giáo có ý muốn bổ sung các
    nội dung lịch sử môn học cho các môn khoa học hoặc bổ sung nội dung
    khoa học vào các môn lịch sử của mình. Cũng như ấn bản trước, tôi cố
    gắng hướng sự chú ý của người đọc đến các chủ đề chính trong lịch sử y
    học, sự tiến hóa của các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu, cũng
    như các quan điểm và giả định khác nhau nhờ đó các thầy thuốc và bệnh
    nhân hiểu được sức khỏe, bệnh tật và sự lành bệnh.
    Có nhiều đổi thay đã xuất hiện trong lịch sử y học kể từ thập niên 1940
    khi Henry E. Sigerist (1891-1957) hô hào cần phải có một hướng đi mới
    trong lĩnh vực này, chuyển từ việc nghiên cứu về các thầy thuốc lớn và các
    tài liệu của họ sang một quan niệm mới xem lịch sử y học như là lịch sử xã
    hội và văn hóa. Từ chỗ hầu như chỉ xoáy vào sự tiến hóa của các lý thuyết
    y học hiện đại, các học giả bắt đầu nhắm vào các vấn đề mới liên quan đến
    bối cảnh xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị trong đó thầy thuốc và bệnh
    nhân đều có vai trò. Do chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi các quan niệm và kỹ
    thuật mượn từ ngành xã hội học, tâm lý học, nhân chủng học và dân số học,
    các sử gia mới chuyên về các khía cạnh xã hội và văn hóa trong y học nhấn
    mạnh đến các yếu tố như chủng tộc, giai cấp, giới tính, cũng như các gắn
    kết thuộc về định chế và nghề nghiệp. Vẫn còn một số tranh luận về bản
    chất của lĩnh vực này, nhưng thảy đều nhất trí rằng lịch sử y học không chỉ
    đơn giản là một câu chuyện kể lại lộ trình đi từ thời tối tăm đến sự khai
    sáng của khoa học hiện đại.
    Căn cứ vào tính sinh động và đa dạng của lĩnh vực này hiện nay, việc tìm
    ra cách thức thỏa đáng để trình bày một đánh giá ở mức sơ đẳng về lịch sử
    y học càng ngày càng trở nên khó khăn. Vì thế, cách tiếp cận có chọn lọc,
    tức là cách dựa trên sự cân nhắc các nhu cầu và sự quan tâm của độc giả là
    những người lần đầu tiếp cận với lĩnh vực này dường như là phù hợp. Vì
    thế, tôi đã chọn những ví dụ đặc thù về các lý thuyết, các chứng bệnh, nghề

    nghiệp, các thầy thuốc, và các nhà khoa học, và cố gắng sử dụng các ví dụ
    này để làm sáng tỏ những chủ đề liên quan đến các vấn đề cơ bản về sức
    khỏe, bệnh tật, và lịch sử. Về đại thể, nội dung quyển sách được sắp xếp
    theo trình tự thời gian, nhưng chủ yếu dựa trên chủ đề.
    Các lý luận và thực tiễn trong y học có thể đưa ra một công cụ nhạy để
    thăm dò hệ thống chặt chẽ các tương tác xã hội, cũng như các dấu vết của
    sự du nhập, phát tán và cải biến của những ý tưởng và kỹ thuật mới hoặc lạ
    lẫm. Các vấn đề y học đều liên quan đến những khía cạnh cơ bản và hiển
    hiện nhất của mọi xã hội - sức khỏe và bệnh tật, sung túc và nghèo đói, sự
    ra đời, quá trình lão hóa, tàn tật, khổ ải và chết chóc. Bất kỳ ai trong mọi
    thời kỳ của lịch sử cũng đều phải đối phó với vấn đề sinh đẻ, bệnh tật, chấn
    thương, và sự đau đớn. Vì thế, những biện pháp được phát triển để chữa
    lành tâm thần và thể xác sẽ là tâm điểm đáng giá để khảo sát các nền văn
    hóa và hoàn cảnh khác nhau. Có thể sự thâm nhập vào lịch sử y học sẽ
    mang lại cho ta một sự gần gũi với người bệnh và người chữa bệnh trong
    quá khứ và hiện tại, một ý thức khiêm tốn khi đứng trước bệnh tật và thiên
    nhiên và một cách tiếp cận có cân nhắc đối với các vấn đề y học hiện nay
    của chúng ta.
    Lịch sử y học có thể rọi sáng các quy luật biến đổi của y tế và bệnh tật,
    cũng như những vấn đề về hành nghề y, sự chuyên nghiệp hóa, các định
    chế, việc đào tạo, chi phí y tế, chẩn đoán và điều trị. Kể từ cuối thế kỷ 19,
    các ngành y sinh học đã phát triển mạnh mẽ khi đi theo cái gọi là “tín điều
    về từng bệnh nguyên học cụ thể” - tức là, cái quan niệm cho rằng nếu chúng
    ta hiểu được tác nhân gây bệnh của một chứng bệnh, hoặc là các biến cố
    phân tử chuyên biệt của một tiến trình bệnh lý, thì chúng ta hoàn toàn có thể
    hiểu được và khống chế được bệnh đó. Quan điểm này bỏ qua không nhắc
    đến những khía cạnh xã hội, đạo đức, kinh tế và địa lý-chính trị phức tạp
    của bệnh tật trong một thế giới càng ngày càng trở nên gần gũi nhiều hơn
    nhờ các phương tiện giao thông và liên lạc hiện đại, nhưng đồng thời cũng
    bị chia tách ngày càng rộng hơn vì những khác biệt giữa sự giàu có và
    nghèo đói.
    Các cuộc tranh luận công khai về y học ngày nay dường như hiếm khi đề
    cập đến những chủ đề cơ bản về nghệ thuật và khoa học của y học; thay
    vào đó, là những vấn đề được đem ra mổ xẻ dằng dai nhất lại liên quan đến
    chi phí chăm sóc y tế, có hay không có các dịch vụ, khả năng tiếp cận các
    dịch vụ đó, tính công bằng và trách nhiệm. Những so sánh giữa các hệ
    thống y tế của nhiều quốc gia khác nhau cho thấy rằng mặc dù có sự khác

    biệt về hình thức, triết lý, cách tổ chức, và các mục tiêu, nhưng tất cả đều bị
    sức ép do chi phí ngày càng tăng và những kỳ vọng và áp lực trên các
    nguồn lực ít ỏi hoặc hạn hẹp. Các viên chức chính phủ, các nhà phân tích
    chính sách và những người làm công tác chuyên môn trong ngành y ngày
    càng tập trung công sức và mối quan tâm của mình nhiều hơn vào các biện
    pháp kìm hãm chi phí. Hiếm khi có ai thử đặt lại vấn đề là ngành y nói
    chung như thế nào xét về các chủ đề được các nhà dân số học, dịch tễ học
    và sử gia nêu ra cũng như về giá trị tương đối của nền y học hiện đại và
    những cải cách có cơ sở rộng lớn hơn về mặt môi trường và hành vi có thể
    ảnh hưởng mạnh mẽ lên các mô thức mắc bệnh và tử vong.
    Những người hoài nghi nói rằng, dường như chúng ta đã đánh đổi các bệnh
    dịch của một thế hệ này để lấy dịch bệnh của một thế hệ khác. Ít nhất, tại
    những nơi giàu có, công nghiệp hóa nhiều hơn trên thế giới, mô hình bệnh
    tật phổ biến đã chuyển từ một dạng trong đó nguyên nhân tử vong là các
    bệnh truyền nhiễm sang một dạng khác với các bệnh thoái hóa và mạn tính
    chiếm đa số, kết hợp với một sự chuyển đổi nhân khẩu học của một thời đại
    có tỷ lệ tử vong ở trẻ còn bú cao sang một thời đại mà tuổi thọ tăng và một
    dân số ngày càng già cỗi. Kể từ cuối thế kỷ 19, chúng ta thấy có một sự
    chuyển đổi rõ rệt từ một thời kỳ trong đó việc dự phòng khá tốn kém
    (chẳng hạn như việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải) và việc điều trị về cơ
    bản là không tốn kém (ví dụ như trích huyết và xổ ruột) sang một thời kỳ
    trong đó chi phí điều trị rất cao (ví dụ các thủ thuật bắt cầu mạch vành) và
    dự phòng ít tốn kém (như tập thể dục và chế độ ăn ít cholesterol). Sau
    nhiều năm tán dương các thành quả thấy được của ngành khoa học y sinh,
    điển hình là những đóng góp như vaccine, kỹ thuật gây mê/gây tê, thuốc
    insulin, ghép tạng, và niềm hy vọng rằng các bệnh dịch sẽ theo chân bệnh
    đậu mùa đi vào quên lãng, thì nay những vấn đề nhức nhối và sâu xa lại
    được nêu ra về sự cách biệt giữa các chi phí của nền y học hiện đại và vai
    trò mà y học quyết định các kiểu mắc bệnh và tử vong về mặt lịch sử và
    toàn cầu. Khi phân tích cẩn thận vai trò của y học, các yếu tố môi trường và
    xã hội trong việc quyết định sức khỏe của người dân, người ta thấy rằng kỹ
    thuật y học không phải là bài thuốc bá bệnh cho bệnh cấp tính gây dịch
    hoặc bệnh mạn tính và bệnh địa phương.
    Một mô tả khái quát về lịch sử y học sẽ củng cố nguyên tắc cơ bản là nếu
    chỉ riêng một mình y học thì sẽ không bao giờ là giải pháp cho những điều
    bất hạnh của cá nhân hoặc những điều bất hạnh của xã hội, nhưng con

    người chưa bao giờ từ bỏ việc trông chờ vào các nghệ thuật chữa bệnh để
    tập trung vào những cách điều trị, an ủi, cải thiện, giảm nhẹ bệnh tật, và
    phục hồi. Có lẽ khi hiểu rõ hơn các quan niệm trước đây về sức khỏe, sự
    lành bệnh và bệnh tật sẽ giúp cho ta nhận ra nguồn gốc các vấn đề hiện tại
    với những giới hạn và trở ngại cố hữu của các quan niệm hiện hành.
    Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng cảm kích sâu sắc đối với John
    Parascandola và Ann Carmichael qua những lời góp ý, phê bình vô giá và
    sự khích lệ của họ trong khi chuẩn bị bản in lần thứ nhất của quyển sách
    này. Dĩ nhiên, tất cả những sai sót còn lại do thiếu sót và vấp váp đều là của
    tôi. Tôi cũng xin hết sức cám ơn các sinh viên dự khóa học, đọc các sách do
    tôi viết, và báo cho tôi biết phần nào rõ ràng và phần nào còn tối nghĩa. Tôi
    cũng xin cám ơn Bộ phận Lịch sử Y học thuộc Thư viện Quốc gia (Hoa Kỳ)
    về Y học đã cung cấp các tài liệu minh họa sử dụng trong sách này và cám
    ơn Tổ chức Y tế Thế giới về bức ảnh ca bệnh đậu mùa cuối cùng tại tiểu lục
    địa Ấn Độ. Tôi cũng xin cám ơn công ty Marcel Dekker, Inc. đã mời tôi
    chuẩn bị ấn bản lần thứ hai của quyển Lịch sử Y học.
    Lois N. Magner

    1
    Bệnh lý họ c và Y học cổ sinh
    DẪN NHẬP
    Một trong những huyền thoại lôi cuốn và vương vấn chúng ta nhất là huyền
    thoại thời Hoàng kim, thời đại trước khi phát hiện cái tốt và cái xấu, khi cái
    chết và bệnh tật chưa ra đời. Thế nhưng, bằng chứng khoa học - tuy ít ỏi,
    manh mún, và dù nhiều khi còn mang tính thách đố - lại chứng minh rằng
    bệnh tật xuất hiện trước loài người từ lâu và không phải là hiếm hoi đối với
    các loài khác. Thật vậy, những nghiên cứu trên các hóa thạch cổ, các bộ
    xương của các bộ sưu tập trong viện bảo tàng, động vật trong sở thú và ở
    ngoài hoang dã cho thấy rằng chứng viêm khớp khá phổ biến đối với
    những loài động vật có vú trung bình và lớn, kể cả con lợn đất (aardvarks)
    chuyên ăn kiến, và linh dương gazel. Bằng chứng nhiễm trùng được tìm
    thấy trong xương của các động vật thời tiền sử, và trong mô mềm của các
    xác ướp. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại phát hiện được bằng
    chứng u bướu trong các hài cốt hóa thạch. Lấy ví dụ, các nhà nghiên cứu
    chụp CT hộp sọ của một con khủng long bạo chúa (gorgosaurus) 72 triệu
    năm đã phát hiện một u não có khả năng làm cho con vật mất thăng bằng
    và chuyển dịch khó khăn. Những bất thường khác trên mẫu nghiên cứu cho
    thấy con vật bị gãy xương đùi, xương ống chân và xương vai.
    Như vậy, việc hiểu được kiểu thức bệnh tật tấn công các bậc tổ tiên tiền sử
    của chúng ta đòi hỏi ta phải có cách nhìn của các nhà bệnh lý học cổ sinh
    (paleopathologist). Marc Armand Ruffer (1859-1917), một trong những
    người sáng lập môn bệnh lý học cổ sinh, đã định nghĩa đây là khoa học về
    những bệnh có thể chứng minh qua hài cốt động vật thời cổ đại. Môn bệnh
    học cổ sinh cung cấp các thông tin về sức khỏe, bệnh tật, tử vong, môi
    trường và văn hóa của các quần thể cổ đại.
    Để tìm hiểu vấn đề bệnh giữa những con người thời cổ đại, chúng ta cần
    khảo sát một số mặt về sự tiến hóa con người, về mặt sinh học lẫn văn hóa.
    Trong quyển sách Sự Xuất hiện của Con người và sự Chọn lọc dựa theo
    quan hệ giới tính (Descent of Man and Selection in Relation to Sex (1871)),
    Charles Darwin cho rằng con người cũng giống như các loài khác, đều phát

    triển từ những dạng sống trước đó qua hình thức chọn lọc tự nhiên. Theo
    Darwin, tất cả các bằng chứng hiện có cho thấy rằng “con người có dòng
    dõi từ động vật 4 chân, có lông, có đuôi, có lẽ có thói quen sống trên cây”.
    Mặc dù không có nhiều bằng chứng, nhưng Darwin cho rằng tổ tiên xa xưa
    của con người hiện đại có họ hàng với khỉ đột (gorilla) và tinh tinh
    (chimpanzee). Ngoài ra, ông còn tiên đoán rằng những con người đầu tiên
    có lẽ đã tiến hóa ở châu Phi. Các bằng chứng đi từ nghiên cứu các hóa
    thạch, địa tầng và sinh học phân tử cho thấy rằng sự tách rời giữa con
    người với khỉ đã xảy ra tại châu Phi từ 5 đến 8 triệu năm trước đây.
    Các hài cốt hóa thạch của tổ tiên con người cung cấp cho ta các đầu mối
    giá trị về quá khứ, nhưng những hóa thạch như thế còn rất ít và thường là
    không đầy đủ. Nhà nghiên cứu giải phẫu học người Nam Phi Raymond
    Dart, đã có một phát hiện đầy ý nghĩa đầu tiên về tổ tiên con người tại châu
    Phi vào những năm 1920, khi ông xác định các hóa thạch nổi tiếng là người
    vượn Nam Phi (Australopithecus africanus). Những phát hiện hứng thú
    nhất trong thế kỷ 20 sau đó về tổ tiên con người cổ đại có liên quan đến
    công trình của vợ chồng Louis và Mary Leakey và của Donald Johanson.
    Làm việc chủ yếu tại các địa điểm thuộc hẻm núi Olduvai và Laetoli tại
    Tanzania, Mary và Louis Leakey tìm thấy nhiều hóa thạch hominid (vượn
    người), trong đó có Australopithecus boisei và Homo habilis. Phát hiện
    quan trọng nhất của Johanson là một bộ xương còn nguyên vẹn một cách
    bất thường của giống australopithecine sơ khai (Australopithecus
    afarensis), thường được gọi là Lucy. Các hài cốt giống hominid mới được
    phát hiện vào đầu thế kỷ 21 đã thúc đẩy nhiều cuộc tranh luận sâu hơn về
    các tổ tiên hominid thời cổ đại cũng như tổ tiên của loài tinh tinh
    (chimpanzee).


    Ngành nhân loại học cổ sinh là một lĩnh vực trong đó các phát hiện mới
    chắc chắn sẽ dẫn tới việc rà soát lại những phát hiện trước đó cùng với nhiều
    tranh luận kịch liệt về nguồn gốc và phân loại của mấy mẫu răng và xương
    nhỏ xíu. Những phát hiện mới hơn chắc chắn sẽ bổ sung nhiều kiến thức về
    lịch sử tiến hóa con người và cũng làm nổ ra nhiều tranh cãi giữa các nhà
    nhân loại học cổ sinh. Các nhà khoa học cũng thừa nhận rằng các bệnh thuộc
    bệnh học cổ sinh giả cũng có thể làm cho người ta hiểu nhầm và diễn giải sai
    bởi vì tuy chúng rất giống với những thương tổn do bệnh, nhưng thực ra đó
    chỉ là những quá trình sau khi chết. Lấy ví dụ, do các thành phần muối cơ

    bản trong xương đều dễ hòa tan trong nước, cho nên các loại đất dễ làm mất
    đi chất calcium sẽ khiến cho xương bị thay đổi giống như tổn thương do
    loãng xương. Mặc dù lắm điểm còn mơ hồ trong các hài cốt cổ xưa, nhưng
    các phương pháp bệnh học cổ sinh có thể phát hiện ra dấu hiệu của bệnh và
    chấn thương trên những hài cốt này.
    Các kiến thức từ nhiều ngành học khác nhau, như khảo cổ, địa lý học lịch
    sử, hình thái học, giải phẫu học so sánh, phân loại học, di truyền học và
    sinh học phân tử đều giúp cho chúng ta hiểu nhiều hơn về sự tiến hóa của
    con người. Những thay đổi trong DNA, kho lưu trữ các tài liệu về phả hệ
    con người, đã được sử dụng để xây dựng lại cây phả hệ, gia đình và các
    kiểu di dân thời xa xưa. Một số gene có thể làm rõ sự khác biệt quan trọng
    giữa con người và các loài linh trưởng khác, chẳng hạn như khả năng diễn
    đạt ngôn ngữ thành lời.
    Về mặt giải phẫu học mà nói thì con người chỉ mới xuất hiện khoảng
    130.000 năm trước đây, nhưng con người hiện đại đúng nghĩa, có được các
    hoạt động phức tạp, chẳng hạn như chế tạo ra các công cụ phức tạp, các tác
    phẩm nghệ thuật, giao thương đường dài, dường như chỉ mới có trong các
    tài liệu khảo cổ chừng 50.000 năm nay mà thôi. Tuy vậy, mối liên hệ giữa
    con người và các dòng hominid đã tuyệt giống vẫn còn là vấn đề tranh cãi.
    Thời đồ đá cũ, thời điểm mà những bước quan trọng nhất trong sự tiến hóa
    văn hóa xuất hiện, lại trùng hợp với kỷ địa chất Pleistocene (Kỷ băng hà
    lớn), vốn đã chấm dứt khoảng 10.000 năm trước đây với sự thoái lui cuối
    cùng của các băng hà. Những con người cổ đại là người săn bắt -hái lượm,
    tức là các động vật ăn tạp có cơ hội học cách làm ra công cụ, xây dựng chỗ
    trú ẩn, mang vác và chia sẻ thức ăn và xây dựng các cấu trúc xã hội mang
    tính độc đáo con người. Mặc dù trong thời đồ đá cũ con người mới chỉ sản
    xuất được các công cụ thô sơ bằng xương và đá ghè, và chưa có các vật
    dụng bằng gốm và kim loại, nhưng con người vào thời kỳ này cũng đã tạo
    ra được các bức vẽ ngoạn mục trong hang Lascaux (Pháp) và Altamira
    (Tây Ban Nha). Cũng có khả năng là họ cũng có các phát minh hữu ích
    nhưng lại dễ bị phân hủy sinh học, cho nên không còn lưu được dấu vết gì
    trên các hóa thạch. Thật vậy, trong thập niên 1960, các nhà khoa học có
    khuynh hướng bảo vệ nữ quyền đã cật vấn những giả định hiện nay về tầm
    quan trọng của sự săn bắt có phải đúng là cách thức kiếm thức ăn của con
    người săn bắt-hái lượm. Có lẽ các hạt, quả, rau quả hoang dại và các thú

    nhỏ do phụ nữ hái lượm đã góp phần đáng kể trong chế độ ăn của người
    thời đồ đá cũ. Hơn thế nữa, do phụ nữ thường phải chăm sóc con nhỏ, cho
    nên có thể họ sáng tạo ra những cây gậy có thể dùng để đào lỗ, các thứ túi
    để mang và cất giữ thức ăn.
    Cuộc cách mạng thời đồ đá mới là sự chuyển đổi sang một hình thức sản
    xuất lương thực mới qua canh tác và chăn nuôi. Con người thời đồ đá mới
    chế tạo các đồ dùng như đan giỏ, làm đồ gốm, đánh sợi và dệt vải. Mặc dù
    không có công trình nghệ thuật nào trong thời kỳ này được coi là đặc sắc
    như các bức tranh trong hang động thời đồ đá cũ ở Pháp và Tây Ban Nha,
    con người thời đồ đá mới đã sản xuất ra các tác phẩm điêu khắc, tượng nhỏ
    và đồ gốm đầy thú vị.
    Nếu lúc trước các nhà khảo cổ và nhân chủng học bị ám ảnh với câu hỏi là
    lối sống nông nghiệp có từ đâu và bao giờ, thì giờ đây họ quan tâm nhiều
    hơn tới câu hỏi vì sao và như thế nào. Các nhà nhân chủng học thế kỷ thứ
    19 thường xếp đặt các nền văn hóa con người vào một loạt các giai đoạn
    tiến triển đi lên qua các loại công cụ được chế tạo và phương cách sản xuất
    lương thực. Kể từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, các phương pháp phân tích
    mới cho phép kiểm tra các giả thiết về sự biến đổi khí hậu và môi trường và
    ảnh hưởng của chúng đến các nguồn lương thực. Khi một ý tưởng lý giải
    sự tiến bộ được đưa ra phân tích cặn kẽ thay vì được chấp nhận một cách
    đương nhiên, thì các nguyên nhân của sự chuyển đổi ở thời đồ đá mới
    không còn được coi là sáng tỏ như lúc trước nữa. Căn cứ trên thực tế những
    người săn bắt-hái lượm có thể có một chế độ ăn uống khá hơn và sống an
    nhàn hơn những người canh tác nông nghiệp, dù là ở thời tiền sử hoặc thời
    hiện đại, thì những lợi điểm của cuộc sống ổn định chỉ có đối với những ai
    đã an cư và ăn uống dư dả. Nguồn thực phẩm có được đối với những người
    săn bắt-hái lượm tuy có phong phú hơn so với thực phẩm của người làm
    nông nghiệp, nhưng thực ra vẫn là bấp bênh và không chắc chắn.
    Những nghiên cứu gần đây về nguồn gốc nông nghiệp cho thấy rằng nông
    nghiệp hầu như đã ra đời trong khoảng từ 10.000 đến 20.000 năm trước
    đây, chủ yếu là để đối phó với các áp lực do phát triển dân số sinh ra. Khi
    so sánh sức khỏe của những người hái lượm và các nông dân an cư, các
    nhà bệnh học cổ sinh thường thấy rằng sự phụ thuộc vào việc trồng trọt
    một loại cây lương thực sẽ làm cho dân chúng sẽ có mức dinh dưỡng kém

    đi so với những người săn bắt-hái lượm, thông qua chiều cao, mức độ lực
    lưỡng, sức khỏe của hàm răng, và nhiều thứ nữa. Trong các xã hội nông
    nghiệp, đáy của tam giác thực phẩm trở nên nhỏ hơn khi con người chỉ
    canh tác một vài loại hoặc thậm chí một loại cây lương thực. Vì thế, nguồn
    thực phẩm có thể đầy đủ về số lượng và calorie, nhưng lại thiếu các
    vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, việc thuần hóa động vật dường như đã
    cải thiện được tình trạng dinh dưỡng và dân số thời cổ đại. Mặc dù toàn bộ
    dân số rõ ràng là đã tăng rất chậm trước khi con người chọn việc canh tác,
    nhưng sau đó lại tăng lên rất nhanh. Trong các xã hội du mục, do thời gian
    cho con bú kéo dài cùng với những cấm kị giao hợp sau khi sinh đã làm
    giãn thời gian giữa hai lần sinh. Đời sống làng mạc đã làm cho phụ nữ thôi
    cho con bú sớm và thời gian giữa hai lần sinh ngắn lại. Những thay đổi có
    tính cách mạng trong môi trường vật lý và xã hội cùng với sự chuyển dịch
    từ lối sống của các nhóm nhỏ dân cư săn bắt-hái lượm đi lang thang đến lối
    sống định cư của những nhóm dân tương đối đông đúc cũng tạo nên những
    thay đổi lớn về các kiểu bệnh tật. Nơi ở lâu dài, với vườn tược, đồng ruộng
    làm phát sinh ra những ổ chứa thuận tiện cho các ký sinh trùng, côn trùng
    và loài gặm nhấm. Thực phẩm để trong kho cũng có thể bị hỏng, kéo theo
    các sâu hại, và bị nhiễm bẩn với những thứ như chất thải của loài gặm
    nhấm, côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc và các độc tố. Canh tác nông nghiệp
    làm tăng số lượng calorie sản xuất trên mỗi đơn vị đất đai, nhưng đồng thời
    làm cho chế độ ăn dựa quá nhiều vào ngũ cốc nhưng có thể không đầy đủ
    về protein, vitamin và chất khoáng.
    Do không hoạt động nhiều và không có nhiều tài nguyên đa dạng như
    những người săn bắt-hái lượm, cho nên đám dân định cư dễ bị ảnh hưởng
    khi mùa màng thất bát, đói kém. Những vụ đói kém tại một vùng nào đó có
    thể khiến cho người dân phải bỏ xứ ra đi đến những nơi khác đồng thời cũng
    mang theo các ký sinh trùng và tác nhân gây bệnh cho người dân và nơi cư
    trú mới. Điều khôi hài là việc quá lo nghĩ về chế độ ăn hiện đại có chứa
    nhiều thành phần không tự nhiên đã trở nên rất thịnh hành, khiến người dân
    tại các quốc gia giàu có nhất giờ đây lại có ý tưởng ngược đời là quay lại với
    chế độ ăn của con người cổ đại hoặc thậm chí chế độ ăn của những loài linh
    trưởng hoang dã. Trên thực tế, nguồn thức ăn của những con người tiền sử
    vốn không hề dư dả, lại đơn điệu, tồi tàn và bẩn thỉu.
    NGÀNH BỆNH HỌC CỔ SINH:
    PHƯƠNG PHÁP VÀ VẤN ĐỀ

    Do bằng chứng trực tiếp về bệnh tật của con người cổ đại còn rất hạn chế,
    cho nên ta phải tìm một loạt các phương pháp gián tiếp để có được một cái
    nhìn sơ lược về thế giới tiền sử. Lấy ví dụ, những nghiên cứu về sinh vật
    họ hàng gần gũi nhất của chúng ta, loài khỉ nhân hình và khỉ, đã cho thấy là
    sống theo kiểu tự nhiên không hẳn là sẽ không mắc bệnh. Các loài linh
    trưởng hoang dã bị rất nhiều bệnh, như viêm khớp, sốt rét, thoát vị bẹn,
    bệnh ký sinh trùng và răng đâm vào nhau. Tổ tiên chúng ta, những “con khỉ
    nhân hình trụi lông” đầu tiên, được cho là đã nếm mùi các bệnh tật tương
    tự như những bệnh tật xảy ra ở các loài linh trưởng hiện nay trong quãng
    đời quả là “bẩn thỉu, thô lậu và ngắn ngủi”. Tuy vậy, con người tiền sử dần
    dần học được cách thích ứng với các môi trường khắc nghiệt, vốn chẳng hề
    giống với cảnh Vườn Địa Đàng trong thần thoại. Mãi về sau, qua sự tiến
    hóa văn hóa, con người mới thay biến đổi môi trường của mình theo những
    cách chưa hề có tiền lệ, ngay cả khi họ phải phụ thuộc vào môi trường đó.
    Khi thuần hóa các động vật, vận dụng thành thục các kỹ thuật canh tác, và
    xây dựng nên những nơi định cư đông đúc, con người cũng tạo ra những
    dạng bệnh tật mới.
    Các nhà bệnh học cổ sinh phải sử dụng đến các bằng chứng sơ cấp và thứ
    cấp để rút ra các dẫn liệu về các dạng bệnh tật thời tiền sử. Bằng chứng sơ
    cấp bao gồm cơ thể, xương, răng, tro và các phần còn lại của cơ thể đã khô
    hoặc cháy thành than tại những nơi chôn xác người vô tình hoặc có chủ ý.
    Các nguồn bằng chứng thứ cấp bao gồm nghệ thuật, đồ tạo tác, đồ tùy táng
    của những con người thời chưa có chữ viết, và các tài liệu cổ mô tả hoặc
    gợi ý sự hiện diện các tình trạng bệnh học. Các tài liệu có được qua những
    nghiên cứu như trên còn rất sơ sài, và do đa số chỉ là những phần cứng của
    cơ thể - như xương và răng - rõ ràng là đã cho ta một hình ảnh méo mó của
    quá khứ.
    Thật vậy, do rất ít có khả năng đạt tới một chẩn đoán chính xác khi nghiên
    cứu các di vật xa xưa cho nên một số học giả nhấn mạnh rằng không nên
    gán tên của các bệnh hiện nay cho các phát hiện của thời xa xưa. Những
    chuyên gia khác lại cứ đưa những bệnh tật thời đồ đá cũ vào cách phân loại
    hệ thống hóa hiện tại như các dị tật bẩm sinh, tổn thương, nhiễm trùng, các
    bệnh thoái hóa, ung thư, bệnh do thiếu chất, và thậm chí những bệnh chưa
    rõ nguyên nhân là nhóm khá rộng.

    Tuy nhiên, khi kết hợp các kỹ thuật cổ điển với hiện đại, các nhà khoa học
    có thể qua những bằng chứng manh mún này mà gặt hái được những kiến
    thức mới về cuộc đời của con người thời cổ đại. Có thể gọi một ngành học
    nghiên cứu các di vật con người qua phương pháp khảo cổ là ngành khảo
    cổ học sinh học, là một lĩnh vực kết hợp giữa ngành khảo cổ học và nhân
    chủng học cơ thể (physical anthropology).
    Các phong tục tang lễ, cách thức táng, các điều kiện môi trường chẳng hạn
    như nóng, ẩm, thành phần của đất, đều ảnh hưởng đến tình trạng lưu giữ
    hài cốt con người. Đặc biệt là việc thiêu xác có thể làm cho hài cốt bị co rút
    và phân mảnh. Xác có thể được chôn xuống đất ngay sau khi chết, rồi lấy
    đá đắp lên thành gò, hoặc đặt lên một cái giàn cho nắng mưa phân hủy. Có
    khi dân du mục lẫn dân định cư đều mang xác chết đặt lên một kiểu giàn
    nào đó trong một thời gian nếu người chết gặp khi đất đang đóng băng. Sau
    đó, người ta mới làm lễ an táng thích hợp cho phần xương cốt còn lại. Tại
    một số nghĩa địa, xác chết sau được dồn vào các ngôi mộ cũ, cuối cùng là
    một đống xương lẫn lộn. Sự mù mờ còn tăng thêm khi có những cái xác bị
    cắt chặt theo các nghi lễ cúng tế, những đồ dùng và quà tặng mang theo
    cho người chết, trong đó có xác động vật hoặc người trong gia đình người
    chết, và những biến dạng do sự ướp xác tự nhiên hoặc do con người.
    Những con vật đào bới hoặc những kẻ cướp mộ cũng có thể quấy phá nơi
    chôn xác và làm cho xương không nằm đúng vị trí. Những thảm họa như lũ
    lụt, động đất, lở đất, thảm sát, có thể cung cấp thông tin liên quan đến một
    nhóm nhiều người trong một thời điểm nào đó.
    Mặc dù ngày càng có nhiều kỹ thuật phân tích mới mạnh và hiện đại hơn
    được đưa vào phục vụ ngành bệnh học cổ sinh, nhưng vẫn còn nhiều điều
    chưa chắc chắn, cho nên tất cả các kết quả vẫn cần phải thận trọng khi diễn
    giải. Từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, các nhà khoa học đã sử
    dụng các phương pháp mới như khuếch đại và giải trình tự chuỗi DNA,
    phân tích các isotope C và N ổn định, và kính hiển vi điện tử quét để đưa ra
    những câu hỏi về sức khỏe, cách sống và văn hóa của các dân tộc thời cổ
    đại. Kính hiển vi điện tử được sử dụng để khảo sát các dạng răng bị mòn và
    ngà răng bị khuyết do stress và rối loạn tăng trưởng, cùng với ảnh hưởng
    hệ xương các chi khi làm việc nặng nhọc. Có điều kiện người ta cũng phân
    tích hóa học để tìm các yếu tố vi lượng lấy từ xương và tóc con người cổ
    đại để hiểu thêm về chế độ ăn và chất lượng đời sống của họ. Chì, thạch
    tín, thủy ngân, cadmium, đồng, và strontium là những chất có thể tìm thấy

    trong tóc.
    Việc phân tích các chất đồng vị ổn định của C và N cũng cho ta biết thêm
    về thành phần hóa học của xương và chế độ ăn, bởi vì tỷ số các chất đồng
    vị C và N tìm thấy trong xương của người và động vật phản ánh tỷ số các
    chất này trong thành phần thực phẩm được tiêu thụ. Từ đó ta có thể ước
    tính được tầm quan trọng tương đối của nguồn thực phẩm động vật và thực
    vật trong chế độ ăn của người tiền sử. Những sai biệt về tỷ số này trong
    xương người qua các thời kỳ khác nhau có thể cho ta biết có sự thay đổi
    trong chế độ ăn. Lấy ví dụ, các nhà khoa học xác định được số lượng tương
    đối của Carbon 13 và Nitrogen 15 trong xương con người sống trên 20.000
    năm trước tại nhiều vùng khác nhau của châu Âu. Các nghiên cứu cho thấy
    chế độ ăn gồm nhiều cá, sò, và chim biển. Phân tích các chất đồng vị trong
    xương người Neanderthal lại phát hiện điều ngược lại đó là nguồn protein
    trong thức ăn của họ chủ yếu có từ thịt của các con mồi động vật lớn hơn.
    Ngày nay, và có lẽ trong quá khứ, phần lớn các nhiễm trùng đều nằm ở mô
    mềm nhiều hơn là ở xương, nhưng xương và răng là nguồn thông tin bậc
    một về bệnh học cổ sinh. Các nhà khoa học có thể nghiên cứu hài cốt bằng
    tia X, chụp cắt lớp (CT), phân tích hóa học và nhiều thứ nữa. Xương có thể
    cung cấp chứng cứ cho biết tình trạng sức khỏe, bệnh tật, tuổi và nguyên
    nhân chết của một người nào đó thời cổ đại.
    Các thương tổn đặc thù thấy được trên các hài cốt cổ đại bao gồm gãy
    xương, trật khớp, bong gân, đứt dây chằng, bệnh thoái hóa khớp, đoạn chi,
    vết thương xuyên thấu, xương mọc gai, cục máu đông bị hóa vôi, vẹo vách
    mũi và nhiều thứ khác. Các loại vũ khí được phóng ra như lao và tên, đã
    được tìm thấy trên các đốt sống, xương ức, xương bả vai, xương cánh tay
    và xương sọ hóa thạch. Nhưng lại ít khi thấy được phần mũi của những thứ
    vũ khí này, phần vì có thể đã được các thầy thuốc lấy ra, hoặc nhiều khả
    năng nhất là phần chóp gây ra một tổn thương chết người này lại mắc kẹt
    trong mô mềm. Trong một số trường hợp sau khi bị các vết thương xuyên
    thấu, người bị nạn vẫn sống sót sau một thời gian dài, người ta tìm thấy
    những phần chóp này gắn kết như những vật lạ trơ vào phần xương bị
    thương tổn.
    Trong một số ca thuận lợi, người ta có thể đoán được thể loại tổn thương và

    khoảng thời gian trải qua từ lúc bị thương tổn đến lúc chết. Xương thường
    liền lại theo các tốc độ có thể dự đoán được. Qua cách sống sót và khỏi
    bệnh người ta có thể nghĩ đến các hình thức điều trị, hỗ trợ và chăm sóc
    trong thời gian dưỡng bệnh. Một số bộ xương cho thấy những chỗ gãy dẫn
    đến hậu quả làm biến dạng xương, gây khó khăn khi đi lại, gây đau đớn
    kinh niên, và bệnh thoái hóa khớp. Từ bằng chứng có sự sống sót cho thấy
    thời trước cũng có những sự trợ giúp hữu hiệu trong thời kỳ dưỡng bệnh và
    sau khi hồi phục. Trong quá trình liền xương, chỗ xương khuyết sẽ được bù
    lại bằng xương. Tuy nhiên, đôi khi xương không liền hẳn, mà kèm theo các
    biến chứng như viêm xương tủy, làm xương chậm kết nối hay không kết
    nối được, chỗ can bị lệch, mọc cựa xương trong mô mềm kề cận, các cục
    máu hóa vôi, làm chậm phát triển, xương bị hoại tử vô trùng, can xương
    giả tức là mô sợi chen vào chỗ xương gãy và bệnh thoái hóa khớp xương
    (viêm khớp sau chấn thương). Xương là một tổ chức mô sống hoạt động
    mạnh, luôn luôn thay đổi cho phù hợp với nhu cầu tăng trưởng, và đối với
    các stress sinh lý cũng như bệnh lý. Nhiều yếu tố, như tuổi, giới, dinh
    dưỡng, nội tiết, di truyền và bệnh tật, tất cả đều ảnh hưởng đến xương. Lao
    động nặng hoặc tập luyện quá mức cũng đều dẫn đến hậu quả tăng khối
    lượng xương. Các tiến trình thoái hóa sẽ làm thay đổi kích thước, hình
    dạng và hình thái của bộ xương cũng như của từng chiếc xương. Bộ xương
    có thể bị thay đổi do viêm khớp và do giảm mật độ xương (bệnh loãng
    xương).
    Bộ xương cũng phụ thuộc vào những thay đổi của môi trường chung
    quanh, nhất là với môi trường cơ học tạo ra do sức nặng cơ thể và lực của
    các cơ. Hình dạng của một chiếc xương, vì vậy, sẽ ghi lại những lực cơ học
    tác động lên nó trong suốt cuộc đời một người. Thường thì các nhà bệnh
    học cổ sinh chú ý đến những chiếc xương có dấu hiệu bệnh lý rõ, nhưng
    xương bình thường cũng cung cấp bằng chứng về cỡ xương, hành vi, giới
    tính, các hoạt động, khối lượng công việc và tư thế của người đó.
    Thông thường thì các nhà cổ sinh bệnh họ...
     
    Gửi ý kiến

    BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    TƯ THẾ NGỒI VIẾT VÀ CÁCH CẦM BÚT - DẠY VIẾT CHỮ ĐẸP

    Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC THIỆU KHÁNH !