Thư viện Trường Tiểu học Thiệu Khánh
Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Thư mục truyện lịch sử Việt Nam

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Sinh
Ngày gửi: 15h:43' 24-03-2024
Dung lượng: 9.3 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Sinh
Ngày gửi: 15h:43' 24-03-2024
Dung lượng: 9.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LỜI NÓI ĐẦU
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Biết
bao tướng sĩ, những anh hùng đã ngã xuống hi sinh để bảo vệ giang sơn, xã tắc, bảo vệ cho
nền độc lập chủ quyền của dân tộc hôm nay. Nhằm giúp cho các em mở mang thêm tầm
hiểu biết của mình về lịch sử những anh hùng dân tộc, thư viện trường Tiểu học Thiệu
Khánh xin trân trọng giới thiệu cuốn thư mục chuyên đề: “Truyện tranh lịch sử Việt
Nam”
Thư mục "Truyện tranh lịch sử Việt Nam" được biên soạn với xuất phát từ mong
muốn giúp các em bước đầu làm quen với lịch sử, tiếp nhận một lượng kiến thức cơ bản về
lịch sử nước nhà thông qua những câu chuyện về các danh nhân được thể hiện bằng các
trang sách màu. Bộ truyện tranh tái hiện lịch sử dân tộc từ thời dựng nước cho đến cuối thế
kỷ XX. Những sự kiện, địa danh và những nhân vật tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử được
minh họa bằng những hình ảnh sinh động, hấp dẫn. Lời thoại trong truyện cũng rất đơn
giản, không đặt nặng về tư liệu nhưng vẫn luôn tôn trọng tính xác thực của lịch sử, góp
phần bồi đắp tình yêu của thiếu nhi với lịch sử, với dân tộc.
Thư mục này gồm có 17 cuốn sách, đưa bạn đọc trở về những chặng đường lịch sử
mà các vị anh hùng dân tộc đã trải qua, điển hình như: Bình Tây đại nguyên soái Trương
Định, danh tướng Nguyễn Tri Phương, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ,…Qua từng câu chuyện,
các em sẽ hiểu biết thêm về quá khứ dựng nước và giữ nước của dân tộc trong suốt hàng
ngàn năm. Thấm nhuần những giá trị lịch sử do cha ông dày công hun đúc, các em sẽ thấu
hiểu những nét văn hóa, phẩm chất và vẻ đẹp của con người Việt Nam. Hơn thế nữa là
lòng tự hào về truyền thống quê hương cùng sự tri ân các anh hùng dân tộc chính là hành
trang hữu ích cho các em. Qua đó các em có thể học tập và noi gương thế hệ đi trước, góp
một phần công sức nhỏ bé của mình để xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp
hơn.
NỘI DUNG THƯ MỤC
1. Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định/Nguyễn Thị Hương Giang (Lời), Phùng
Minh Giang, Nguyễn Thu Hậu (Tranh).- H. : Giáo Dục, 2008.- 35tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Trương Định (1820-1864) sinh ra ở Bình Sơn, Quãng Ngãi, sau theo cha
vào tân An (Long An) lập nghiệp. Trương Định đã chiêu mộ nghĩa binh đánh Pháp ngay
khi chúng tấn công Gia Định (1859).
Năm 1862, Triều đình Huế kí hòa ước, nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho
thực dân Pháp. Triều đình ra lệnh cho Trương Định phải giải tán lực lượng kháng chiến
nhưng Trương Định kiên quyết cùng nhân dân chống quân xâm lược.
Bằng trí thông mkinh, lòng quyết tâm chống Pháp cùng với sự ủng hộ của nhân
dân, nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo đã lập nhiều chiến công hiển hách. Năm 1864,
trong một lần bị địch phục kích, không may Trương Định đã anh dũng hi sinh.
Cuộc khởi nghĩa của Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của nhân dân Nam
Bộ trong buổi đầu chống Pháp. Trương Định được nhân dân, nghĩa quân vô cùng yêu mến
và kính trọng. họ suy tôn ông là Bình tây Đại nguyên soái.
KHXG: STN/1546
2. Bạch Đằng dậy sóng/ Nguyễn thị Thu Hương (Lời), Nguyễn Đông Hải (Tranh).H. : Giáo Dục, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
2
Tóm tắt: Năm 938, lợi dụng việc Kiều Công Tiễn cầu cứu, vua Nam Hán tức tốc
điều quân xâm lược nước ta.
Để đối phó với quân Nam Hán, Ngô Quyền đã nhanh chóng tiêu diệt 'thù trong” là
Kiều Công Tiễn và vạch kế hoạch phá tan đạo qu6an xâm lược Nam Hán trên sông Bạch
Đằng. Ngô Quyền đã cho đóng cộc gỗ (được vót nhọn đầu, bịt sắt) ở cửa sông. Lợi dụng
lúc thủy triều lên, dụ thuyền giặc vào trận địa và khi thủy triều xuống thì bất ngờ tung đại
quân ra đánh dữ dội. Giặc hốt hoảng quay thuyền bỏ chạy thì va vào cộc nhọn, thuyền giặc
chiếc bị thủng, chiếc bị vướng vào cọc nên không tiến, không lùi được. Đạo quân thủy
binh của Hoằng Tháo hầu hết bị tiêu diệt. Hoằng Tháo cũng bị giết trong đám loạn quân.
Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong những trận thủy chiến xuất sắc của lịch sử giữ nước
của dân tộc ta.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nam Hán bị đè
bẹp. Năm 939 Ngô quyền lên ngôi Vua, chọn Cổ Loa (Động Anh, Hà Nội) làm kinh đô.
KHXG: STN/1526
3. Chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang/ Lương Duy, Nguyên Thi (Lời), Đào Duy
Minh (Tranh).- H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
3
Tóm tắt: Vào tháng 11-1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, tiến vào xâm lược
nước ta và thiết lập chính quyền thống trị hà khắc. Chúng xoa bỏ Quốc hiệu nước ta, đổi
thành quận giao chỉ, sáp nhập nước ta vào Trung Quốc.
Không cam chịu kiếp làm nô lệ, năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghãi ở Lam Sơn
và tự xưng là Bình Định Vương. Trải qua nhiều thăm trầm, có lúc tưởng như phong trào
tan rã, nhưng với lòng quyết tâm của nghĩa quân, sự ủng hộ của nhân dân, cuộc khởi nghĩa
kéo dài hơn 20 năm và kết thúc bằng chiến thắng vang dội trận Chi Lăng-Xương Giang.
Trong “Bình Ngô Đại cáo” Nguyễn trãi đã ca ngợi trận chiến lịch sử này.
KHXG: STN/1522
4. Danh tướng Nguyễn Tri Phương/ Đoàn Thị Tuyết Minh (Lời), Nguyễn Minh
Kiên (Tranh).- H. : Giáo Dục, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Tri Phương sinh năm Canh Thân (2800), mất năm Quý Dậu
(1873), là vị danh tướng bậc nhất dưới triều Minh Mạng-Thiệu Trị-Tự Đức. Ông nổi tiếng
dũng cảm và mưu lược. quê Ông ở làng Chi Long, Huyện Phong Điền, tỉnh Thừ Thiên
Huế. Ông vốn có tên là Nguyễn Văn Chương, tự là Hàm Trinh. Đến năm 1850, vua Tự
Đức cải tên ông thành Nguyễn Tri Phương, lấy từ câu chữ “Dõng thả tri phương”, nghĩa là
dũng mãnh và lắm mưu.
Năm 1858, Nguyễn Tri phương là người cầm quân chống Pháp ở Đà Nẵng. Năm
1860, cũng chính ông là người chỉ huy quân đội chống trả Pháp tại Đại đồn Chí Hòa(Gia
Định).
Năm 1873 Nguyễn Tri Phương lúc bấy giờ là Tổng đốc thành Hà Nội đã trực tiếp
chỉ huy quân triều đình đánh trả đội quân xâm lược Pháp. Ông bị thương và bị giặt bắt. Cự
tuyệt mọi sự dụ dỗ của giặc Pháp, ông tuyệt thực và qua đời.
KHXG: STN/1531
5. Khí tiết anh hùng/ Tạ Lan Hạnh (Lời, Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.31tr. : minh họa; 21cm
4
Tóm tắt: Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai.
Sinh ra trong một gia đình Nho học có truyền thống học giỏi, đỗ đạt ở xả Xuân Đài,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Năm 16 tuổi Hoàng Diệu đã nổi tiếng về thơ văn; 20 tuổi đỗ cử nhân; 26 tuổi đỗ
phó bảng.
Ông được Vua Tự Đức bổ nhiệm làm quan nhiều nơi ở nhiều địa phương Trung kì,
Bắc kì; nắm giữ chức vụ quan trọng. Năm 1880 ông được bổ nhiệm làm tổng đốc Hà Ninh
(Hà Nội-Ninh Bình).
Năm 1882, Pháp đánh chiếm Bắc kì lần thứ 2, tổng đốc Hoàng Diệu đã chỉ đạo
quân dân Hà Nội tử thủ, chống trả anh dũng quyết liệt, bất chấp sự nhu nhược đầu hàng
của triều đình.
Ngày 25-4-1882, thành Hà Nội thất thủ, ông để lại di biểu rồi tuẫn tiết tại Võ Miếu,
quyết không để rơi vào tay giặc.
Suốt 30 năm làm quan, Hoàng Diệu nổi tiếng thanh liêm, cương trực; hết lòng chăm
lo cho dân nước. Những nơi ông cai quản kỉ cương, luật lệ rất nghiêm minh, công bằng,
đời sống xã hội ổn định, trật tự. Ông được vua Tự Đức tin dùng, nhân dân hết mực yêu
quý.
KHXG: STN/1528
6. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ/ Lương Duyên, Nguyên Thi (Lời), Nguyễn Minh
Trung (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
5
Tóm tắt: Nguyễn Hữu Thọ sinh năm 1910 tại Chợ Lớn (nay thuộc TP. Hồ Chí
Minh). Năm 1930, ông sang học luật tại Pháp rồi trở về nước tham gia cách mạng. Ông
hoạt động tích cực trong phong trào tri thức Việt Nam và bị Pháp bắt giam ở Lai Châu
năm 1950. Sau khi được trả tự do, Ông lại tham gia phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài GònChợ Lớn và bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt, đưa đi giam giữ tại Phú Yên. Năm 1961
ông được giải thoát và ra vùng giải phóng.
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập (năm 1960), Nguyễn
Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch mặt trận (1962). Sau đó làm chủ tịch hội đồng cố vấn
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Đất nước thống nhất, ông lần lượt nắm giũ nhiều chức vụ quan trọng khác: Phó chủ
tịch Quốc hội(1976), Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1980),
chủ tịch Quốc hội(1981),…
Với những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ
tổ quốc, Nguyễn Hữu Thọ đã vinh dự được tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân
chương cao quý khác. Ông qua đời tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1996 trong niềm ti61c
thương của đồng bào cả nước.
KHXG: STN/1519
7. Nơ Trang Long người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên/ Nguyễn Thị Hương
Giang (Lời), Nguyễn Đông Hải (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa;
21cm
6
Tóm tắt: Nơ Trang Long (1870-1935) là người dân tộc Mơ-nông. Cuối năm 1911,
khi quân Pháp mở cuộc tấn công vào làng để đốt phá, hãm hiếp người dân vô tội, Nơ
Trang Long đã kêu gọi dân làng nổi dậy chống trả. Cuộc khởi nghĩa do Nơ Trang Long
lãnh đạo kéo dài suốt 24 năm. Nghãi quân đã đánh bại nhiều cuộc tấn công của địch, quết
sạch các đồn bốt, giải phóng một vùng rộng hàng nghìn km.
Từ năm 1933 đến năm 1935, quân Pháp tổ chức nhiều cuộc hành quân nhằm tiêu
diệt nghĩa quân. Trong một trận chiến đấu ác liệt tháng 6-1935, Nơ Trang Long bị giặt bắt
và giết hại.
Cuộc kháng chiến của người Mơ-nông dưới sự lãnh đạo của Nơ Trang long là một
trang sử chói lọi về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đấu tranh giành độc lập cuau3 các
dân tộc trên đất nước Việt Nam.
KHXG: STN/1517
8. Nhà yêu nước Phan Châu Trinh/ Nguyễn Thị Hương Giang (Lời), Tạ Lan Hạnh
(Tranh), H. : Giáo Dục, 2009.- 39tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Phan Chạu Trinh(1872-1926) hiệu là Tây Hồ, quê ở làng Tây Lộc, huyện
Tiên Phước (nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh) tỉnh Quảng Nam.
Năm 1900, ông thi hương đỗ Cử nhân; năm sau thi Hội đỗ Phóng bảng và làm quan
trong triều đình Huế, nhưng cuối năm 1904, ông từ quan.
7
Phan Châu Trinh là người đã giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội; chủ
trương cứu nước bằng việc nâng cao dân trí, dân quyền. Ông vạch trần chế độ vua quan
phong kiến thối nát và yêu cầu Pháp phải thay đổi thái độ với nhân dân nước Nam. Ông đề
cao phương châm 'tự lực khai hóa”, vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân
chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền…
Cuộc vận động canh tân cứu nước đầu thế kỉ XX của Phan Châu trinh là một trong
những phong trào rộng lớn, yêu nước- gọi là phong trào Duy Tân, gây được tiếng vang
mạnh mẽ, ươm mầm cho tinh thần và khả năng cách mạng của quần chúng nhân dân trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc.
KHXG: STN/1544
9. Nguyễn Lộ Trạch người mang tư tưởng canh tân đất nước/ Đoàn Triệu Long, Trà
My (Lời), Phạm Thị Thảo Nguyên (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh
họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) hiệu là Kì Am, người làng Kế Môn, huyện
Phong điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, là con trai thượng thư bộ hình kiêm tổng đốc ninh-Thái
Nguyễn Oai. Ngay từ khi ông còn nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học một biết mời. Thời
điểm Nguyễn Lộ Trạch sinh ra và lớn lên cũng là lúc đất nước bị thực dân Pháp xâm lược.
Năm 1877, nhân một kì thi Đình, ông dân lên vua Tự Đức bảng “Thời vụ sách
thượng”, nêu lên những yêu cầu bức thiết của nước nhà nhưng không được chấp nhận.
Năm 1882, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ 2 ông lại dân bảng “Thời vụ sách hạ”
gồm 5 điều cốt yếu để bảo vệ đất nước. Triều đình Tự Đức vẫn không chịu chấp nhận
những ý kiến gan ruột của ông.
Năm 1892, ông lại dân lên bảng “thiên hạ đại thế luận” (Bàn chuyện lớn trong thiên
hạ), nhưng vẫn bị bỏ qua.
Năm 1895 ộng bị bệnh rồi mất tại Bình Định. Ông được xem là một trong những
nhà canh tân đất nước tiêu biểu của thế kỉ XIX.
KHXG: STN/1540
8
10. Nguyễn Danh Phương và cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài/ Đoàn Thị
Tuyết Mai (Lời), Nguyễn Minh Trung (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. :
minh họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Danh Phương(?-1751) còn gọi là Quận Hẻo, vốn là một tri thức
Nho học nhưng do căm ghét triều đình chúa Trịnh tham lam, bạo tàn nên vào năm 1739,
ông tham gia cuộc khởi nghĩa do Đồ Tế và thủ lĩnh Bồng lãnh đạo và sua đó trở thành thủ
lĩnh của cuộc khởi nghĩa.
Nguyễn Danh Phương cho xây dựng căn cứ ở Độc Tôn Sơn (thuộc Tam Đảo),
chiêu mộ dân binh và tổ chức liên tiếp các cuộc tấn công vào chính quyền nhà Trịnh, gây
cho quân Trịnh nhiều tổn thất nặng nề.
Năm 1751, quân Trịnh lợi dụng đêm tối đánh úp quân của Nguyễn danh Phương.
Ông bị bắt trên đường rút quân, sau đó bị hành hình.
Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương tuy thất bại nhưng tinh thần đấu tranh
chống áp bức, cường quyền của cuộc khởi nghãi mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc.
KHXG: STN/1532
11. Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện/ Lê Như Hạnh (Lời), Nguyễn Đông Hải
(Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 39tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Phạm Hồng thái (1895-1924) còn có tên là Phạm Thành Tích, sinh năm
1895, tại làng Do Nha, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình giàu truyền
thống cách mạng.
9
Thuở nhỏ, Phạm Hồng Thái học ở trường quốc học Vinh, sau ra Bắc học trường kĩ
nghệ Hải Phòng. Đến năm 1919 anh làm công nhân nhà máy điện hãng SiFa, sau tham gia
đấu tranh bị sa thải. năm 1923 anh làm việc ở nhà máy xi măng Hải Phòng. Tháng 1-1924
anh cùng Lê Hồng Phong sang xiêm (Thái Lan), rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc).
Tháng 4-1924, gia nhập Tâm tâm xã do Hồ Tùng Mâu và Lê Hồng Sơn thành lập (1923).
Ngày 19-6-1924, sau khi viết bản cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp với
nhân dân toàn Thế Giới, Phạm Hồng thái giả lám kí giả vào Khách sạn Victoria, tại tô giới
Sa Diện ở Quảng Châu (Trung Quốc) đề ám sát toàn quyền Đông Dương Hăng-ri Meclanh nhưng không thành.
Sau khi thoát khỏi khách sạn Victoria, bị giặt truy đuổi gắt gao nên Phạm Hồng thái
đã gieo mình xuống dòng Châu Giang tự vẫn. Lúc ấy anh vừa tròn 28 tuổi. Thi hài Phạm
Hồng thái được chính phủ Tôn Trung Sơn trân trọng chôn cất ở Đài liệt sĩ Hoàng Hoa
Cương cùng với 72 liệt sĩ Trung Quốc trong cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), có bia đề
“Việt Nam liệt sĩ Phạm Hồng Thái chi mộ”.
KHXG: STN/1358
12. Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”/ Trần Tích Thành (Lời),
Nguyễn Mạnh Thái (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Phan huy Chú sinh năm 1782 ở làng Thụy Khê (làng Thầy), huyện Quốc
Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), trong một gia đình có truyền thống khoa bảng.
Năm 1809, sau khi đỗ Tú tài, Phan Huy Chú quyết định ở ẩn. Trong suốt 10 năm
ông “đóng cửa, tạ khách”, dành cả tâm trí, tài năng để nghiên cứu, ghi chép 10 lĩnh vực; bộ
sách gồm 49 quyển được ông đặt tên là “Lịch triều hiến chương loại chí”.
Năm 1821, Phan Huy Chú được vua Minh Mạng triệu vào kinh đô Huế. Tại đây,
ông trải qua nhiều chức vụ.
Sau năm 1832, nhận thấy triều đình không trọng dụng những người xuất thân dưới
triều Tây Sơn, mượn cớ đau yếu, cáo quan về quê dạy học.
Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam,
đánh dấu một bước phát triển cao về học thuật ở nước ta đầu thế kỉ XIX. Chính công trình
này đã đưa Phan Huy Chú trở thành nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời trung đại.
10
KHXG: STN/1516
13. Quang Trung Đại phá quân Thanh/ Phan Văn Giới – Hà Thị Thu Ánh (Lời),
Phạm Tuấn (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2008.- 27tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Huệ - Quang trung (175-1792): Là người con trai thứ hai trong
gia đình gốc họ Hồ ở ở Nghệ An. Sau vào Nam đổi thành họ Nguyễn.
Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huê, Nguyễn Lữ sinh ra và lớn lên ở vùng đất võ
Tây Sơn; được thụ giáo thầy Trương Văn Hiến về văn lẫn võ.
Dựng cờ khởi nghĩa từ năm 1765, tiêu diệt quyền thần Trương Phúc Loan, đánh
đuổi chúa Nguyễn, xây dựng cơ nghiệp nhà Tây Sơn vững chắc ở Đàng Trong. Cuối năm
1784, đánh tan gần 4 vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện, dẫn đường kéo vào xâm
chiếm, cướp bóc nước ta.
Tháng 6-1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc tiêu diệt nhà Trịnh,
giúp vua Hiển Tông bình ổn xã tắc Đàng Ngoài. Sau đó ông kết duyên cùng công chúa
Ngọc Hân (con gái vua Lê Hiển Tông).
Cuối năm 1788, nghe tin quân Thanh kéo sáng xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên
ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, xuất quân tiến ra Bắc tiêu diệt 20 vạn quân
Thanh.
Từ 30 tháng 12 năm 1788 đến ngày mùng 5 Tết Kỉ Dậu(1789), đại quân của Hoàng
đế Quang trung đã nhanh chóng đánh thắng, triệt hạ các căn cứ của quân Thanh ở các đồn
Gián Khẩu, Hà Hồi và Đống Đa. Hai mươi vạn quân Thanh bị đánh bại, nhiều tướng lĩnh
bị giết hoặc tự sát.
Chiến thắng thấn tốc, lẫy lừng xuân Kỉ Dậu (1789) gắn liền với tên tuổi Nguyễn
Huệ - Quang Trung vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn; một anh hùng dân tộc và là thiên
tài quân sự Việt Nam.
KHXG: STN/1525
14. Quận He Nguyễn Hữu Cầu/ Đoàn Triệu Long (Lời), Lê Phương (Tranh), H. :
Giáo Dục Việt Nam, 2008.- 39tr. : minh họa; 21cm
11
Tóm tắt: Nguyễn Hữu Cầu người làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, trấn hải Dương
(Nam Thanh, Hải Dương). Ông là một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào nông
dân Đàng Ngoài vào thế kỉ XVIII. Ông được nhắc đến như là vị anh hùng thoắt ẩn, thoắt
hiện với những chiến công hiển hách. Những nơi ông đặt chân đến đuề nhận được sự ủng
hộ mạnh mẽ của nhân dân. ở ông, không chỉ thể hiện là thủ lĩnh tài giỏi của đạo quân khởi
nghĩa mà còn là người bạn của những nông dân khốn khổ.
Hơn 9 năm, từ trấn hải Dương đến Đồ Sơn, Hải Phòng đến Bắc Ninh cho đến Nghệ
An, hàng vạn người nông dân đã đồng lòng, đứng dưới lá cờ khởi nghĩa của ông. Sự nổi
dậy của phong trào nông dân Đàng Ngoài chống lại chế độ thối nát của chúa trịnh, đã phản
ánh ý chí đấu tranh cho tự do, chống áp bức, bất công của nông dân. Thủ lĩnh của phong
trào được nhân dân rất kính trọng và thường gọi một cách thân mật, gần gũi là Quận He
Nguyễn Hữu Cầu.
KHXG: STN/1530
15. Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”/ Nguyễn Thị Hương Giang
(Lời), Nguyễn Mạnh Thái (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Thủ Khoa Huân (1830-1875), tên thật là Nguyễn Hữu Huân, quê ở Định
Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông học rất giỏi, đỗ đầu kì thi Hương năm 1852 và sau
đó được bổ làm Giáo thụ ngay tại huyện nhà.
12
Khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược nam Kì (1859), ông đã từ bỏ nghề dạy
học, chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Ông liên kết với các thủ lĩnh nghĩa quân của các
vùng khác tiến hành đánh du kích, làm cho quân địch nhiều phen khốn đốn.
Ông bị giặc bắt ba lần, nhưng cứ mỗi lần được thả ra, ông lại tập hợp lực lượng tiếp
tục chiến đấu. Nguyễn Hữu Huân là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân chiến đấu kiên
cường và bền bỉ nhất ở Nam Kì trong những ngày đầu chống Pháp.
Năm 1875, Thủ Khoa Huân lại bị địch bắt, tực dân pháp và tay sai dùng mọi thủ
đoạn mua chuộc nhưng không lay chuyển ý chí của ông, cuối cùng chúng đưa ông ra xử tử
bên bờ sông Tiền.
KHXG: STN/1537
16. Trần Bình Trọng thà làm vua nước Nam chứ không làm vương đất Bắc/ Nguyễn
Thị Nhơn (Lời), Lê Phương (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa;
21cm
Tóm tắt: Trần Bình Trong 5sinh năm 1259, là con trai của tướng Lê Tần (sau đổi
tên là Lê Phụ Trần) và công chúa Chiêu Thánh.
Dưới sự kèm cặp, dạy bảo của cha, Trần Bình Trọng lớn lên tinh thông võ nghệ, am
hiểu binh pháp.
Năm 1285, Thoát Hoan chỉ huy đại binh tiến đánh nước ta, Trần Bình Trọng được
Hưng Đạo Vương giao cho giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc (nay thuộc Khoái Châu, Hưng
Yên).
Trần Bình Trọng và quân sĩ án ngữ ở đây đã chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ
đường rút lui của nhà vua và chủ tướng. Thế giặc mạnh, quân ta lại ít, cuối cùng ông bị sa
vào tay giặt.
Trước lời dụ hàng của tướng giặt ông khảng khái từ chối với câu nói nổi tiếng “Ta
thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”.
13
Khí tiết và cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng đả thổi thêm ngọn lửa căm thù
quân giặc vào toàn thể quân dân Đại Việt thời Trần, góp phần làm nên đại thắng quân
Mộng-Nguyên.
KHXG: STN/1553
17. Triệu Việt Vương người anh hùng đầm Dạ Trạch / Nguyễn Thị Nhơn (Lời), Lê
Phương (Tranh), H. : Giáo Dục, 2008.-27. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Triệu Việt Vương (?-571) quê ở phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay
thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông vốn là người có tài thao lược và đã cùng cha theo Lí Bí khởi
nghĩa, lật đổ chi1nhq uyền đô hộ nhà Lương.
Năm 546, Lí Bí trao quyền lãnh đạo khởi nghĩa cho Triêu Quang Phục. Từ một lực
lượng bị suy yếu. Triệu Quang phục đã tổ chức xây dựng nghĩa quân thành đội quân hùng
mạnh và được nhân dân khắp nơi ủng hộ. Ông lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ d9nah1 lan
ra, khiến quân địch rối bời. Quân lương thất bại cuốn gói về nước.
Đất nước được giải phóng, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, lậy hiệu Triệu Việt
Vương. Nhân dân còn đặt cho ông cái tên trìu mến là Dạ Trạch Vương (Vua Đầm Đêm) để
ghi nhớ những năm tháng oai hùng tại đầm Dạ Trạch.
KHXG: STN/1549
14
BẢNG TRA
Stt
Tên tài liệu
Số
trang
1
1
Lời nói đầu
2
Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định
3
Bạch Đằng dậy sóng
2,3
4
Chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang
3,4
5
Danh tướng Nguyễn Tri Phương
6
Khí tiết anh hùng
4,5
7
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ
5,6
8
Nơ Trang Long người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên
6,7
9
Nhà yêu nước Phan Châu Trinh
7,8
10
Nguyễn Lộ Trạch người mang tư tưởng canh tân đất nước
11
Nguyễn Danh Phương và cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài
8,9
12
Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện
9,10
13
Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”
10,11
14
Quang Trung Đại phá quân Thanh
15
Quận He Nguyễn Hữu Cầu
11,12
16
Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”
12,13
17
Trần Bình Trọng thà làm vua nước Nam chứ không làm vương đất Bắc
13
18
Triệu Việt Vương người anh hùng đầm Dạ Trạch
14
19
Bảng tra
15
2
4
8
11
15
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Biết
bao tướng sĩ, những anh hùng đã ngã xuống hi sinh để bảo vệ giang sơn, xã tắc, bảo vệ cho
nền độc lập chủ quyền của dân tộc hôm nay. Nhằm giúp cho các em mở mang thêm tầm
hiểu biết của mình về lịch sử những anh hùng dân tộc, thư viện trường Tiểu học Thiệu
Khánh xin trân trọng giới thiệu cuốn thư mục chuyên đề: “Truyện tranh lịch sử Việt
Nam”
Thư mục "Truyện tranh lịch sử Việt Nam" được biên soạn với xuất phát từ mong
muốn giúp các em bước đầu làm quen với lịch sử, tiếp nhận một lượng kiến thức cơ bản về
lịch sử nước nhà thông qua những câu chuyện về các danh nhân được thể hiện bằng các
trang sách màu. Bộ truyện tranh tái hiện lịch sử dân tộc từ thời dựng nước cho đến cuối thế
kỷ XX. Những sự kiện, địa danh và những nhân vật tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử được
minh họa bằng những hình ảnh sinh động, hấp dẫn. Lời thoại trong truyện cũng rất đơn
giản, không đặt nặng về tư liệu nhưng vẫn luôn tôn trọng tính xác thực của lịch sử, góp
phần bồi đắp tình yêu của thiếu nhi với lịch sử, với dân tộc.
Thư mục này gồm có 17 cuốn sách, đưa bạn đọc trở về những chặng đường lịch sử
mà các vị anh hùng dân tộc đã trải qua, điển hình như: Bình Tây đại nguyên soái Trương
Định, danh tướng Nguyễn Tri Phương, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ,…Qua từng câu chuyện,
các em sẽ hiểu biết thêm về quá khứ dựng nước và giữ nước của dân tộc trong suốt hàng
ngàn năm. Thấm nhuần những giá trị lịch sử do cha ông dày công hun đúc, các em sẽ thấu
hiểu những nét văn hóa, phẩm chất và vẻ đẹp của con người Việt Nam. Hơn thế nữa là
lòng tự hào về truyền thống quê hương cùng sự tri ân các anh hùng dân tộc chính là hành
trang hữu ích cho các em. Qua đó các em có thể học tập và noi gương thế hệ đi trước, góp
một phần công sức nhỏ bé của mình để xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp
hơn.
NỘI DUNG THƯ MỤC
1. Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định/Nguyễn Thị Hương Giang (Lời), Phùng
Minh Giang, Nguyễn Thu Hậu (Tranh).- H. : Giáo Dục, 2008.- 35tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Trương Định (1820-1864) sinh ra ở Bình Sơn, Quãng Ngãi, sau theo cha
vào tân An (Long An) lập nghiệp. Trương Định đã chiêu mộ nghĩa binh đánh Pháp ngay
khi chúng tấn công Gia Định (1859).
Năm 1862, Triều đình Huế kí hòa ước, nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho
thực dân Pháp. Triều đình ra lệnh cho Trương Định phải giải tán lực lượng kháng chiến
nhưng Trương Định kiên quyết cùng nhân dân chống quân xâm lược.
Bằng trí thông mkinh, lòng quyết tâm chống Pháp cùng với sự ủng hộ của nhân
dân, nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo đã lập nhiều chiến công hiển hách. Năm 1864,
trong một lần bị địch phục kích, không may Trương Định đã anh dũng hi sinh.
Cuộc khởi nghĩa của Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của nhân dân Nam
Bộ trong buổi đầu chống Pháp. Trương Định được nhân dân, nghĩa quân vô cùng yêu mến
và kính trọng. họ suy tôn ông là Bình tây Đại nguyên soái.
KHXG: STN/1546
2. Bạch Đằng dậy sóng/ Nguyễn thị Thu Hương (Lời), Nguyễn Đông Hải (Tranh).H. : Giáo Dục, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
2
Tóm tắt: Năm 938, lợi dụng việc Kiều Công Tiễn cầu cứu, vua Nam Hán tức tốc
điều quân xâm lược nước ta.
Để đối phó với quân Nam Hán, Ngô Quyền đã nhanh chóng tiêu diệt 'thù trong” là
Kiều Công Tiễn và vạch kế hoạch phá tan đạo qu6an xâm lược Nam Hán trên sông Bạch
Đằng. Ngô Quyền đã cho đóng cộc gỗ (được vót nhọn đầu, bịt sắt) ở cửa sông. Lợi dụng
lúc thủy triều lên, dụ thuyền giặc vào trận địa và khi thủy triều xuống thì bất ngờ tung đại
quân ra đánh dữ dội. Giặc hốt hoảng quay thuyền bỏ chạy thì va vào cộc nhọn, thuyền giặc
chiếc bị thủng, chiếc bị vướng vào cọc nên không tiến, không lùi được. Đạo quân thủy
binh của Hoằng Tháo hầu hết bị tiêu diệt. Hoằng Tháo cũng bị giết trong đám loạn quân.
Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong những trận thủy chiến xuất sắc của lịch sử giữ nước
của dân tộc ta.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nam Hán bị đè
bẹp. Năm 939 Ngô quyền lên ngôi Vua, chọn Cổ Loa (Động Anh, Hà Nội) làm kinh đô.
KHXG: STN/1526
3. Chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang/ Lương Duy, Nguyên Thi (Lời), Đào Duy
Minh (Tranh).- H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
3
Tóm tắt: Vào tháng 11-1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, tiến vào xâm lược
nước ta và thiết lập chính quyền thống trị hà khắc. Chúng xoa bỏ Quốc hiệu nước ta, đổi
thành quận giao chỉ, sáp nhập nước ta vào Trung Quốc.
Không cam chịu kiếp làm nô lệ, năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghãi ở Lam Sơn
và tự xưng là Bình Định Vương. Trải qua nhiều thăm trầm, có lúc tưởng như phong trào
tan rã, nhưng với lòng quyết tâm của nghĩa quân, sự ủng hộ của nhân dân, cuộc khởi nghĩa
kéo dài hơn 20 năm và kết thúc bằng chiến thắng vang dội trận Chi Lăng-Xương Giang.
Trong “Bình Ngô Đại cáo” Nguyễn trãi đã ca ngợi trận chiến lịch sử này.
KHXG: STN/1522
4. Danh tướng Nguyễn Tri Phương/ Đoàn Thị Tuyết Minh (Lời), Nguyễn Minh
Kiên (Tranh).- H. : Giáo Dục, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Tri Phương sinh năm Canh Thân (2800), mất năm Quý Dậu
(1873), là vị danh tướng bậc nhất dưới triều Minh Mạng-Thiệu Trị-Tự Đức. Ông nổi tiếng
dũng cảm và mưu lược. quê Ông ở làng Chi Long, Huyện Phong Điền, tỉnh Thừ Thiên
Huế. Ông vốn có tên là Nguyễn Văn Chương, tự là Hàm Trinh. Đến năm 1850, vua Tự
Đức cải tên ông thành Nguyễn Tri Phương, lấy từ câu chữ “Dõng thả tri phương”, nghĩa là
dũng mãnh và lắm mưu.
Năm 1858, Nguyễn Tri phương là người cầm quân chống Pháp ở Đà Nẵng. Năm
1860, cũng chính ông là người chỉ huy quân đội chống trả Pháp tại Đại đồn Chí Hòa(Gia
Định).
Năm 1873 Nguyễn Tri Phương lúc bấy giờ là Tổng đốc thành Hà Nội đã trực tiếp
chỉ huy quân triều đình đánh trả đội quân xâm lược Pháp. Ông bị thương và bị giặt bắt. Cự
tuyệt mọi sự dụ dỗ của giặc Pháp, ông tuyệt thực và qua đời.
KHXG: STN/1531
5. Khí tiết anh hùng/ Tạ Lan Hạnh (Lời, Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.31tr. : minh họa; 21cm
4
Tóm tắt: Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai.
Sinh ra trong một gia đình Nho học có truyền thống học giỏi, đỗ đạt ở xả Xuân Đài,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Năm 16 tuổi Hoàng Diệu đã nổi tiếng về thơ văn; 20 tuổi đỗ cử nhân; 26 tuổi đỗ
phó bảng.
Ông được Vua Tự Đức bổ nhiệm làm quan nhiều nơi ở nhiều địa phương Trung kì,
Bắc kì; nắm giữ chức vụ quan trọng. Năm 1880 ông được bổ nhiệm làm tổng đốc Hà Ninh
(Hà Nội-Ninh Bình).
Năm 1882, Pháp đánh chiếm Bắc kì lần thứ 2, tổng đốc Hoàng Diệu đã chỉ đạo
quân dân Hà Nội tử thủ, chống trả anh dũng quyết liệt, bất chấp sự nhu nhược đầu hàng
của triều đình.
Ngày 25-4-1882, thành Hà Nội thất thủ, ông để lại di biểu rồi tuẫn tiết tại Võ Miếu,
quyết không để rơi vào tay giặc.
Suốt 30 năm làm quan, Hoàng Diệu nổi tiếng thanh liêm, cương trực; hết lòng chăm
lo cho dân nước. Những nơi ông cai quản kỉ cương, luật lệ rất nghiêm minh, công bằng,
đời sống xã hội ổn định, trật tự. Ông được vua Tự Đức tin dùng, nhân dân hết mực yêu
quý.
KHXG: STN/1528
6. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ/ Lương Duyên, Nguyên Thi (Lời), Nguyễn Minh
Trung (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm
5
Tóm tắt: Nguyễn Hữu Thọ sinh năm 1910 tại Chợ Lớn (nay thuộc TP. Hồ Chí
Minh). Năm 1930, ông sang học luật tại Pháp rồi trở về nước tham gia cách mạng. Ông
hoạt động tích cực trong phong trào tri thức Việt Nam và bị Pháp bắt giam ở Lai Châu
năm 1950. Sau khi được trả tự do, Ông lại tham gia phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài GònChợ Lớn và bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt, đưa đi giam giữ tại Phú Yên. Năm 1961
ông được giải thoát và ra vùng giải phóng.
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập (năm 1960), Nguyễn
Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch mặt trận (1962). Sau đó làm chủ tịch hội đồng cố vấn
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Đất nước thống nhất, ông lần lượt nắm giũ nhiều chức vụ quan trọng khác: Phó chủ
tịch Quốc hội(1976), Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1980),
chủ tịch Quốc hội(1981),…
Với những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ
tổ quốc, Nguyễn Hữu Thọ đã vinh dự được tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân
chương cao quý khác. Ông qua đời tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1996 trong niềm ti61c
thương của đồng bào cả nước.
KHXG: STN/1519
7. Nơ Trang Long người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên/ Nguyễn Thị Hương
Giang (Lời), Nguyễn Đông Hải (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa;
21cm
6
Tóm tắt: Nơ Trang Long (1870-1935) là người dân tộc Mơ-nông. Cuối năm 1911,
khi quân Pháp mở cuộc tấn công vào làng để đốt phá, hãm hiếp người dân vô tội, Nơ
Trang Long đã kêu gọi dân làng nổi dậy chống trả. Cuộc khởi nghĩa do Nơ Trang Long
lãnh đạo kéo dài suốt 24 năm. Nghãi quân đã đánh bại nhiều cuộc tấn công của địch, quết
sạch các đồn bốt, giải phóng một vùng rộng hàng nghìn km.
Từ năm 1933 đến năm 1935, quân Pháp tổ chức nhiều cuộc hành quân nhằm tiêu
diệt nghĩa quân. Trong một trận chiến đấu ác liệt tháng 6-1935, Nơ Trang Long bị giặt bắt
và giết hại.
Cuộc kháng chiến của người Mơ-nông dưới sự lãnh đạo của Nơ Trang long là một
trang sử chói lọi về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đấu tranh giành độc lập cuau3 các
dân tộc trên đất nước Việt Nam.
KHXG: STN/1517
8. Nhà yêu nước Phan Châu Trinh/ Nguyễn Thị Hương Giang (Lời), Tạ Lan Hạnh
(Tranh), H. : Giáo Dục, 2009.- 39tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Phan Chạu Trinh(1872-1926) hiệu là Tây Hồ, quê ở làng Tây Lộc, huyện
Tiên Phước (nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh) tỉnh Quảng Nam.
Năm 1900, ông thi hương đỗ Cử nhân; năm sau thi Hội đỗ Phóng bảng và làm quan
trong triều đình Huế, nhưng cuối năm 1904, ông từ quan.
7
Phan Châu Trinh là người đã giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội; chủ
trương cứu nước bằng việc nâng cao dân trí, dân quyền. Ông vạch trần chế độ vua quan
phong kiến thối nát và yêu cầu Pháp phải thay đổi thái độ với nhân dân nước Nam. Ông đề
cao phương châm 'tự lực khai hóa”, vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân
chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền…
Cuộc vận động canh tân cứu nước đầu thế kỉ XX của Phan Châu trinh là một trong
những phong trào rộng lớn, yêu nước- gọi là phong trào Duy Tân, gây được tiếng vang
mạnh mẽ, ươm mầm cho tinh thần và khả năng cách mạng của quần chúng nhân dân trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc.
KHXG: STN/1544
9. Nguyễn Lộ Trạch người mang tư tưởng canh tân đất nước/ Đoàn Triệu Long, Trà
My (Lời), Phạm Thị Thảo Nguyên (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh
họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) hiệu là Kì Am, người làng Kế Môn, huyện
Phong điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, là con trai thượng thư bộ hình kiêm tổng đốc ninh-Thái
Nguyễn Oai. Ngay từ khi ông còn nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học một biết mời. Thời
điểm Nguyễn Lộ Trạch sinh ra và lớn lên cũng là lúc đất nước bị thực dân Pháp xâm lược.
Năm 1877, nhân một kì thi Đình, ông dân lên vua Tự Đức bảng “Thời vụ sách
thượng”, nêu lên những yêu cầu bức thiết của nước nhà nhưng không được chấp nhận.
Năm 1882, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ 2 ông lại dân bảng “Thời vụ sách hạ”
gồm 5 điều cốt yếu để bảo vệ đất nước. Triều đình Tự Đức vẫn không chịu chấp nhận
những ý kiến gan ruột của ông.
Năm 1892, ông lại dân lên bảng “thiên hạ đại thế luận” (Bàn chuyện lớn trong thiên
hạ), nhưng vẫn bị bỏ qua.
Năm 1895 ộng bị bệnh rồi mất tại Bình Định. Ông được xem là một trong những
nhà canh tân đất nước tiêu biểu của thế kỉ XIX.
KHXG: STN/1540
8
10. Nguyễn Danh Phương và cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài/ Đoàn Thị
Tuyết Mai (Lời), Nguyễn Minh Trung (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. :
minh họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Danh Phương(?-1751) còn gọi là Quận Hẻo, vốn là một tri thức
Nho học nhưng do căm ghét triều đình chúa Trịnh tham lam, bạo tàn nên vào năm 1739,
ông tham gia cuộc khởi nghĩa do Đồ Tế và thủ lĩnh Bồng lãnh đạo và sua đó trở thành thủ
lĩnh của cuộc khởi nghĩa.
Nguyễn Danh Phương cho xây dựng căn cứ ở Độc Tôn Sơn (thuộc Tam Đảo),
chiêu mộ dân binh và tổ chức liên tiếp các cuộc tấn công vào chính quyền nhà Trịnh, gây
cho quân Trịnh nhiều tổn thất nặng nề.
Năm 1751, quân Trịnh lợi dụng đêm tối đánh úp quân của Nguyễn danh Phương.
Ông bị bắt trên đường rút quân, sau đó bị hành hình.
Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương tuy thất bại nhưng tinh thần đấu tranh
chống áp bức, cường quyền của cuộc khởi nghãi mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc.
KHXG: STN/1532
11. Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện/ Lê Như Hạnh (Lời), Nguyễn Đông Hải
(Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 39tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Phạm Hồng thái (1895-1924) còn có tên là Phạm Thành Tích, sinh năm
1895, tại làng Do Nha, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình giàu truyền
thống cách mạng.
9
Thuở nhỏ, Phạm Hồng Thái học ở trường quốc học Vinh, sau ra Bắc học trường kĩ
nghệ Hải Phòng. Đến năm 1919 anh làm công nhân nhà máy điện hãng SiFa, sau tham gia
đấu tranh bị sa thải. năm 1923 anh làm việc ở nhà máy xi măng Hải Phòng. Tháng 1-1924
anh cùng Lê Hồng Phong sang xiêm (Thái Lan), rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc).
Tháng 4-1924, gia nhập Tâm tâm xã do Hồ Tùng Mâu và Lê Hồng Sơn thành lập (1923).
Ngày 19-6-1924, sau khi viết bản cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp với
nhân dân toàn Thế Giới, Phạm Hồng thái giả lám kí giả vào Khách sạn Victoria, tại tô giới
Sa Diện ở Quảng Châu (Trung Quốc) đề ám sát toàn quyền Đông Dương Hăng-ri Meclanh nhưng không thành.
Sau khi thoát khỏi khách sạn Victoria, bị giặt truy đuổi gắt gao nên Phạm Hồng thái
đã gieo mình xuống dòng Châu Giang tự vẫn. Lúc ấy anh vừa tròn 28 tuổi. Thi hài Phạm
Hồng thái được chính phủ Tôn Trung Sơn trân trọng chôn cất ở Đài liệt sĩ Hoàng Hoa
Cương cùng với 72 liệt sĩ Trung Quốc trong cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), có bia đề
“Việt Nam liệt sĩ Phạm Hồng Thái chi mộ”.
KHXG: STN/1358
12. Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”/ Trần Tích Thành (Lời),
Nguyễn Mạnh Thái (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Phan huy Chú sinh năm 1782 ở làng Thụy Khê (làng Thầy), huyện Quốc
Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), trong một gia đình có truyền thống khoa bảng.
Năm 1809, sau khi đỗ Tú tài, Phan Huy Chú quyết định ở ẩn. Trong suốt 10 năm
ông “đóng cửa, tạ khách”, dành cả tâm trí, tài năng để nghiên cứu, ghi chép 10 lĩnh vực; bộ
sách gồm 49 quyển được ông đặt tên là “Lịch triều hiến chương loại chí”.
Năm 1821, Phan Huy Chú được vua Minh Mạng triệu vào kinh đô Huế. Tại đây,
ông trải qua nhiều chức vụ.
Sau năm 1832, nhận thấy triều đình không trọng dụng những người xuất thân dưới
triều Tây Sơn, mượn cớ đau yếu, cáo quan về quê dạy học.
Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam,
đánh dấu một bước phát triển cao về học thuật ở nước ta đầu thế kỉ XIX. Chính công trình
này đã đưa Phan Huy Chú trở thành nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời trung đại.
10
KHXG: STN/1516
13. Quang Trung Đại phá quân Thanh/ Phan Văn Giới – Hà Thị Thu Ánh (Lời),
Phạm Tuấn (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2008.- 27tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Nguyễn Huệ - Quang trung (175-1792): Là người con trai thứ hai trong
gia đình gốc họ Hồ ở ở Nghệ An. Sau vào Nam đổi thành họ Nguyễn.
Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huê, Nguyễn Lữ sinh ra và lớn lên ở vùng đất võ
Tây Sơn; được thụ giáo thầy Trương Văn Hiến về văn lẫn võ.
Dựng cờ khởi nghĩa từ năm 1765, tiêu diệt quyền thần Trương Phúc Loan, đánh
đuổi chúa Nguyễn, xây dựng cơ nghiệp nhà Tây Sơn vững chắc ở Đàng Trong. Cuối năm
1784, đánh tan gần 4 vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện, dẫn đường kéo vào xâm
chiếm, cướp bóc nước ta.
Tháng 6-1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc tiêu diệt nhà Trịnh,
giúp vua Hiển Tông bình ổn xã tắc Đàng Ngoài. Sau đó ông kết duyên cùng công chúa
Ngọc Hân (con gái vua Lê Hiển Tông).
Cuối năm 1788, nghe tin quân Thanh kéo sáng xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên
ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, xuất quân tiến ra Bắc tiêu diệt 20 vạn quân
Thanh.
Từ 30 tháng 12 năm 1788 đến ngày mùng 5 Tết Kỉ Dậu(1789), đại quân của Hoàng
đế Quang trung đã nhanh chóng đánh thắng, triệt hạ các căn cứ của quân Thanh ở các đồn
Gián Khẩu, Hà Hồi và Đống Đa. Hai mươi vạn quân Thanh bị đánh bại, nhiều tướng lĩnh
bị giết hoặc tự sát.
Chiến thắng thấn tốc, lẫy lừng xuân Kỉ Dậu (1789) gắn liền với tên tuổi Nguyễn
Huệ - Quang Trung vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn; một anh hùng dân tộc và là thiên
tài quân sự Việt Nam.
KHXG: STN/1525
14. Quận He Nguyễn Hữu Cầu/ Đoàn Triệu Long (Lời), Lê Phương (Tranh), H. :
Giáo Dục Việt Nam, 2008.- 39tr. : minh họa; 21cm
11
Tóm tắt: Nguyễn Hữu Cầu người làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, trấn hải Dương
(Nam Thanh, Hải Dương). Ông là một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào nông
dân Đàng Ngoài vào thế kỉ XVIII. Ông được nhắc đến như là vị anh hùng thoắt ẩn, thoắt
hiện với những chiến công hiển hách. Những nơi ông đặt chân đến đuề nhận được sự ủng
hộ mạnh mẽ của nhân dân. ở ông, không chỉ thể hiện là thủ lĩnh tài giỏi của đạo quân khởi
nghĩa mà còn là người bạn của những nông dân khốn khổ.
Hơn 9 năm, từ trấn hải Dương đến Đồ Sơn, Hải Phòng đến Bắc Ninh cho đến Nghệ
An, hàng vạn người nông dân đã đồng lòng, đứng dưới lá cờ khởi nghĩa của ông. Sự nổi
dậy của phong trào nông dân Đàng Ngoài chống lại chế độ thối nát của chúa trịnh, đã phản
ánh ý chí đấu tranh cho tự do, chống áp bức, bất công của nông dân. Thủ lĩnh của phong
trào được nhân dân rất kính trọng và thường gọi một cách thân mật, gần gũi là Quận He
Nguyễn Hữu Cầu.
KHXG: STN/1530
15. Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”/ Nguyễn Thị Hương Giang
(Lời), Nguyễn Mạnh Thái (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Thủ Khoa Huân (1830-1875), tên thật là Nguyễn Hữu Huân, quê ở Định
Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông học rất giỏi, đỗ đầu kì thi Hương năm 1852 và sau
đó được bổ làm Giáo thụ ngay tại huyện nhà.
12
Khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược nam Kì (1859), ông đã từ bỏ nghề dạy
học, chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Ông liên kết với các thủ lĩnh nghĩa quân của các
vùng khác tiến hành đánh du kích, làm cho quân địch nhiều phen khốn đốn.
Ông bị giặc bắt ba lần, nhưng cứ mỗi lần được thả ra, ông lại tập hợp lực lượng tiếp
tục chiến đấu. Nguyễn Hữu Huân là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân chiến đấu kiên
cường và bền bỉ nhất ở Nam Kì trong những ngày đầu chống Pháp.
Năm 1875, Thủ Khoa Huân lại bị địch bắt, tực dân pháp và tay sai dùng mọi thủ
đoạn mua chuộc nhưng không lay chuyển ý chí của ông, cuối cùng chúng đưa ông ra xử tử
bên bờ sông Tiền.
KHXG: STN/1537
16. Trần Bình Trọng thà làm vua nước Nam chứ không làm vương đất Bắc/ Nguyễn
Thị Nhơn (Lời), Lê Phương (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa;
21cm
Tóm tắt: Trần Bình Trong 5sinh năm 1259, là con trai của tướng Lê Tần (sau đổi
tên là Lê Phụ Trần) và công chúa Chiêu Thánh.
Dưới sự kèm cặp, dạy bảo của cha, Trần Bình Trọng lớn lên tinh thông võ nghệ, am
hiểu binh pháp.
Năm 1285, Thoát Hoan chỉ huy đại binh tiến đánh nước ta, Trần Bình Trọng được
Hưng Đạo Vương giao cho giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc (nay thuộc Khoái Châu, Hưng
Yên).
Trần Bình Trọng và quân sĩ án ngữ ở đây đã chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ
đường rút lui của nhà vua và chủ tướng. Thế giặc mạnh, quân ta lại ít, cuối cùng ông bị sa
vào tay giặt.
Trước lời dụ hàng của tướng giặt ông khảng khái từ chối với câu nói nổi tiếng “Ta
thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”.
13
Khí tiết và cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng đả thổi thêm ngọn lửa căm thù
quân giặc vào toàn thể quân dân Đại Việt thời Trần, góp phần làm nên đại thắng quân
Mộng-Nguyên.
KHXG: STN/1553
17. Triệu Việt Vương người anh hùng đầm Dạ Trạch / Nguyễn Thị Nhơn (Lời), Lê
Phương (Tranh), H. : Giáo Dục, 2008.-27. : minh họa; 21cm
Tóm tắt: Triệu Việt Vương (?-571) quê ở phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay
thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông vốn là người có tài thao lược và đã cùng cha theo Lí Bí khởi
nghĩa, lật đổ chi1nhq uyền đô hộ nhà Lương.
Năm 546, Lí Bí trao quyền lãnh đạo khởi nghĩa cho Triêu Quang Phục. Từ một lực
lượng bị suy yếu. Triệu Quang phục đã tổ chức xây dựng nghĩa quân thành đội quân hùng
mạnh và được nhân dân khắp nơi ủng hộ. Ông lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ d9nah1 lan
ra, khiến quân địch rối bời. Quân lương thất bại cuốn gói về nước.
Đất nước được giải phóng, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, lậy hiệu Triệu Việt
Vương. Nhân dân còn đặt cho ông cái tên trìu mến là Dạ Trạch Vương (Vua Đầm Đêm) để
ghi nhớ những năm tháng oai hùng tại đầm Dạ Trạch.
KHXG: STN/1549
14
BẢNG TRA
Stt
Tên tài liệu
Số
trang
1
1
Lời nói đầu
2
Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định
3
Bạch Đằng dậy sóng
2,3
4
Chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang
3,4
5
Danh tướng Nguyễn Tri Phương
6
Khí tiết anh hùng
4,5
7
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ
5,6
8
Nơ Trang Long người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên
6,7
9
Nhà yêu nước Phan Châu Trinh
7,8
10
Nguyễn Lộ Trạch người mang tư tưởng canh tân đất nước
11
Nguyễn Danh Phương và cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài
8,9
12
Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện
9,10
13
Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”
10,11
14
Quang Trung Đại phá quân Thanh
15
Quận He Nguyễn Hữu Cầu
11,12
16
Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”
12,13
17
Trần Bình Trọng thà làm vua nước Nam chứ không làm vương đất Bắc
13
18
Triệu Việt Vương người anh hùng đầm Dạ Trạch
14
19
Bảng tra
15
2
4
8
11
15
 





