DANH NGÔN HAY

“Vào khoảnh khắc mà chúng ta quyết thuyết phục đứa trẻ, bất cứ đứa trẻ nào, bước qua bậc thềm ấy, bậc thềm màu nhiệm dẫn vào thư viện, ta thay đổi cuộc sống của nó mãi mãi, theo cách tốt đẹp hơn.” - Barack Obama

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

LIÊN KẾT CỔNG THÔNG TIN- HỌC LIỆU SỐ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5343030829092_e1208e44509de7d3c27ccd285e86c117.jpg Z5343030073391_588736bdb53d6da114d0b14d0b10947f.jpg Z5355883614387_dd02a473f709fc300ee9ab4077f2bcea.jpg Z5343227449195_71a8002a3e6e4d6e98fffff8e0888a6a.jpg Z5343030824110_5c48118b41ba3ef9264c8955f1b959e1.jpg Z5355874475374_b1377c2832dbd952b9416721f3279ea4.jpg Z5343030069708_97656d40f10f15507d913b4357967166.jpg Z5343030838706_ef40bda474dbfb39a6aae0e5a4921553.jpg Z5355883524448_0e06958f362f4c17eb345782d9743350.jpg Z5343711918955_d0545231ce01032ac8a951c824e02a57.jpg Z5355883522918_40843db1b9d5055c29691eb96f00c9c2.jpg Z5355883606811_1128f04f2228076434d42ecc671b426d.jpg Z5355883578364_a56096dfc89bc974f3a0e556f70741c2.jpg Z5355883573437_18a05627344eab33f9d9135d70fa0fd3.jpg Z5355883561104_2d1c8eb3776a8ea90192efed64a2308f.jpg Z5343029994119_89daf6d4094a9e3af48778d75da9d1ab.jpg Z5343030079902_6f5a2e4041d24ac49359190e9a267d66.jpg Z5343030049738_c82c90e6f4307b633a7aeb56d64da1f9.jpg Z5343030040363_7abee3120919c79cdcb51f50e37fd5a0.jpg Z5343030038759_4e5cf7aad7f8ee48c004a23a422351c5.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    Thư viện Trường Tiểu học Thiệu Khánh

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Thư mục truyện lịch sử Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Sinh
    Ngày gửi: 15h:43' 24-03-2024
    Dung lượng: 9.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI NÓI ĐẦU
    Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Biết
    bao tướng sĩ, những anh hùng đã ngã xuống hi sinh để bảo vệ giang sơn, xã tắc, bảo vệ cho
    nền độc lập chủ quyền của dân tộc hôm nay.  Nhằm giúp cho các em mở mang thêm tầm
    hiểu biết của mình về lịch sử những anh hùng dân tộc, thư viện trường Tiểu học Thiệu
    Khánh xin trân trọng giới thiệu cuốn thư mục chuyên đề: “Truyện tranh lịch sử Việt
    Nam”
    Thư mục "Truyện tranh lịch sử Việt Nam" được biên soạn với xuất phát từ mong
    muốn giúp các em bước đầu làm quen với lịch sử, tiếp nhận một lượng kiến thức cơ bản về
    lịch sử nước nhà thông qua những câu chuyện về các danh nhân được thể hiện bằng các
    trang sách màu. Bộ truyện tranh tái hiện lịch sử dân tộc từ thời dựng nước cho đến cuối thế
    kỷ XX. Những sự kiện, địa danh và những nhân vật tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử được
    minh họa bằng những hình ảnh sinh động, hấp dẫn. Lời thoại trong truyện cũng rất đơn
    giản, không đặt nặng về tư liệu nhưng vẫn luôn tôn trọng tính xác thực của lịch sử, góp
    phần bồi đắp tình yêu của thiếu nhi với lịch sử, với dân tộc.
              Thư mục này gồm có 17 cuốn sách, đưa bạn đọc trở về những chặng đường lịch sử
    mà các vị anh hùng dân tộc đã trải qua, điển hình như: Bình Tây đại nguyên soái Trương
    Định, danh tướng Nguyễn Tri Phương, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ,…Qua từng câu chuyện,
    các em sẽ hiểu biết thêm về quá khứ dựng nước và giữ nước của dân tộc trong suốt hàng
    ngàn năm. Thấm nhuần những giá trị lịch sử do cha ông dày công hun đúc, các em sẽ thấu
    hiểu những nét văn hóa, phẩm chất và vẻ đẹp của con người Việt Nam. Hơn thế nữa là
    lòng tự hào về truyền thống quê hương cùng sự tri ân các anh hùng dân tộc chính là hành
    trang hữu ích cho các em. Qua đó các em có thể học tập và noi gương thế hệ đi trước, góp
    một phần công sức nhỏ bé của mình để xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp
    hơn.

    NỘI DUNG THƯ MỤC
    1. Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định/Nguyễn Thị Hương Giang (Lời), Phùng
    Minh Giang, Nguyễn Thu Hậu (Tranh).- H. : Giáo Dục, 2008.- 35tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Trương Định (1820-1864) sinh ra ở Bình Sơn, Quãng Ngãi, sau theo cha
    vào tân An (Long An) lập nghiệp. Trương Định đã chiêu mộ nghĩa binh đánh Pháp ngay
    khi chúng tấn công Gia Định (1859).
    Năm 1862, Triều đình Huế kí hòa ước, nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho
    thực dân Pháp. Triều đình ra lệnh cho Trương Định phải giải tán lực lượng kháng chiến
    nhưng Trương Định kiên quyết cùng nhân dân chống quân xâm lược.
    Bằng trí thông mkinh, lòng quyết tâm chống Pháp cùng với sự ủng hộ của nhân
    dân, nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo đã lập nhiều chiến công hiển hách. Năm 1864,
    trong một lần bị địch phục kích, không may Trương Định đã anh dũng hi sinh.
    Cuộc khởi nghĩa của Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của nhân dân Nam
    Bộ trong buổi đầu chống Pháp. Trương Định được nhân dân, nghĩa quân vô cùng yêu mến
    và kính trọng. họ suy tôn ông là Bình tây Đại nguyên soái.
    KHXG: STN/1546
    2. Bạch Đằng dậy sóng/ Nguyễn thị Thu Hương (Lời), Nguyễn Đông Hải (Tranh).H. : Giáo Dục, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm

    2

    Tóm tắt: Năm 938, lợi dụng việc Kiều Công Tiễn cầu cứu, vua Nam Hán tức tốc
    điều quân xâm lược nước ta.
    Để đối phó với quân Nam Hán, Ngô Quyền đã nhanh chóng tiêu diệt 'thù trong” là
    Kiều Công Tiễn và vạch kế hoạch phá tan đạo qu6an xâm lược Nam Hán trên sông Bạch
    Đằng. Ngô Quyền đã cho đóng cộc gỗ (được vót nhọn đầu, bịt sắt) ở cửa sông. Lợi dụng
    lúc thủy triều lên, dụ thuyền giặc vào trận địa và khi thủy triều xuống thì bất ngờ tung đại
    quân ra đánh dữ dội. Giặc hốt hoảng quay thuyền bỏ chạy thì va vào cộc nhọn, thuyền giặc
    chiếc bị thủng, chiếc bị vướng vào cọc nên không tiến, không lùi được. Đạo quân thủy
    binh của Hoằng Tháo hầu hết bị tiêu diệt. Hoằng Tháo cũng bị giết trong đám loạn quân.
    Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong những trận thủy chiến xuất sắc của lịch sử giữ nước
    của dân tộc ta.
    Sau chiến thắng Bạch Đằng, mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nam Hán bị đè
    bẹp. Năm 939 Ngô quyền lên ngôi Vua, chọn Cổ Loa (Động Anh, Hà Nội) làm kinh đô.
    KHXG: STN/1526
    3. Chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang/ Lương Duy, Nguyên Thi (Lời), Đào Duy
    Minh (Tranh).- H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm

    3

    Tóm tắt: Vào tháng 11-1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, tiến vào xâm lược
    nước ta và thiết lập chính quyền thống trị hà khắc. Chúng xoa bỏ Quốc hiệu nước ta, đổi
    thành quận giao chỉ, sáp nhập nước ta vào Trung Quốc.
    Không cam chịu kiếp làm nô lệ, năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghãi ở Lam Sơn
    và tự xưng là Bình Định Vương. Trải qua nhiều thăm trầm, có lúc tưởng như phong trào
    tan rã, nhưng với lòng quyết tâm của nghĩa quân, sự ủng hộ của nhân dân, cuộc khởi nghĩa
    kéo dài hơn 20 năm và kết thúc bằng chiến thắng vang dội trận Chi Lăng-Xương Giang.
    Trong “Bình Ngô Đại cáo” Nguyễn trãi đã ca ngợi trận chiến lịch sử này.
    KHXG: STN/1522
    4. Danh tướng Nguyễn Tri Phương/ Đoàn Thị Tuyết Minh (Lời), Nguyễn Minh
    Kiên (Tranh).- H. : Giáo Dục, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Nguyễn Tri Phương sinh năm Canh Thân (2800), mất năm Quý Dậu
    (1873), là vị danh tướng bậc nhất dưới triều Minh Mạng-Thiệu Trị-Tự Đức. Ông nổi tiếng
    dũng cảm và mưu lược. quê Ông ở làng Chi Long, Huyện Phong Điền, tỉnh Thừ Thiên
    Huế. Ông vốn có tên là Nguyễn Văn Chương, tự là Hàm Trinh. Đến năm 1850, vua Tự
    Đức cải tên ông thành Nguyễn Tri Phương, lấy từ câu chữ “Dõng thả tri phương”, nghĩa là
    dũng mãnh và lắm mưu.
    Năm 1858, Nguyễn Tri phương là người cầm quân chống Pháp ở Đà Nẵng. Năm
    1860, cũng chính ông là người chỉ huy quân đội chống trả Pháp tại Đại đồn Chí Hòa(Gia
    Định).
    Năm 1873 Nguyễn Tri Phương lúc bấy giờ là Tổng đốc thành Hà Nội đã trực tiếp
    chỉ huy quân triều đình đánh trả đội quân xâm lược Pháp. Ông bị thương và bị giặt bắt. Cự
    tuyệt mọi sự dụ dỗ của giặc Pháp, ông tuyệt thực và qua đời.
    KHXG: STN/1531
    5. Khí tiết anh hùng/ Tạ Lan Hạnh (Lời, Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.31tr. : minh họa; 21cm

    4

    Tóm tắt: Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai.
    Sinh ra trong một gia đình Nho học có truyền thống học giỏi, đỗ đạt ở xả Xuân Đài,
    huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
    Năm 16 tuổi Hoàng Diệu đã nổi tiếng về thơ văn; 20 tuổi đỗ cử nhân; 26 tuổi đỗ
    phó bảng.
    Ông được Vua Tự Đức bổ nhiệm làm quan nhiều nơi ở nhiều địa phương Trung kì,
    Bắc kì; nắm giữ chức vụ quan trọng. Năm 1880 ông được bổ nhiệm làm tổng đốc Hà Ninh
    (Hà Nội-Ninh Bình).
    Năm 1882, Pháp đánh chiếm Bắc kì lần thứ 2, tổng đốc Hoàng Diệu đã chỉ đạo
    quân dân Hà Nội tử thủ, chống trả anh dũng quyết liệt, bất chấp sự nhu nhược đầu hàng
    của triều đình.
    Ngày 25-4-1882, thành Hà Nội thất thủ, ông để lại di biểu rồi tuẫn tiết tại Võ Miếu,
    quyết không để rơi vào tay giặc.
    Suốt 30 năm làm quan, Hoàng Diệu nổi tiếng thanh liêm, cương trực; hết lòng chăm
    lo cho dân nước. Những nơi ông cai quản kỉ cương, luật lệ rất nghiêm minh, công bằng,
    đời sống xã hội ổn định, trật tự. Ông được vua Tự Đức tin dùng, nhân dân hết mực yêu
    quý.
    KHXG: STN/1528
    6. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ/ Lương Duyên, Nguyên Thi (Lời), Nguyễn Minh
    Trung (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa; 21cm

    5

    Tóm tắt: Nguyễn Hữu Thọ sinh năm 1910 tại Chợ Lớn (nay thuộc TP. Hồ Chí
    Minh). Năm 1930, ông sang học luật tại Pháp rồi trở về nước tham gia cách mạng. Ông
    hoạt động tích cực trong phong trào tri thức Việt Nam và bị Pháp bắt giam ở Lai Châu
    năm 1950. Sau khi được trả tự do, Ông lại tham gia phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài GònChợ Lớn và bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt, đưa đi giam giữ tại Phú Yên. Năm 1961
    ông được giải thoát và ra vùng giải phóng.
    Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập (năm 1960), Nguyễn
    Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch mặt trận (1962). Sau đó làm chủ tịch hội đồng cố vấn
    Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
    Đất nước thống nhất, ông lần lượt nắm giũ nhiều chức vụ quan trọng khác: Phó chủ
    tịch Quốc hội(1976), Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1980),
    chủ tịch Quốc hội(1981),…
    Với những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ
    tổ quốc, Nguyễn Hữu Thọ đã vinh dự được tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân
    chương cao quý khác. Ông qua đời tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1996 trong niềm ti61c
    thương của đồng bào cả nước.
    KHXG: STN/1519
    7. Nơ Trang Long người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên/ Nguyễn Thị Hương
    Giang (Lời), Nguyễn Đông Hải (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa;
    21cm

    6

    Tóm tắt: Nơ Trang Long (1870-1935) là người dân tộc Mơ-nông. Cuối năm 1911,
    khi quân Pháp mở cuộc tấn công vào làng để đốt phá, hãm hiếp người dân vô tội, Nơ
    Trang Long đã kêu gọi dân làng nổi dậy chống trả. Cuộc khởi nghĩa do Nơ Trang Long
    lãnh đạo kéo dài suốt 24 năm. Nghãi quân đã đánh bại nhiều cuộc tấn công của địch, quết
    sạch các đồn bốt, giải phóng một vùng rộng hàng nghìn km.
    Từ năm 1933 đến năm 1935, quân Pháp tổ chức nhiều cuộc hành quân nhằm tiêu
    diệt nghĩa quân. Trong một trận chiến đấu ác liệt tháng 6-1935, Nơ Trang Long bị giặt bắt
    và giết hại.
    Cuộc kháng chiến của người Mơ-nông dưới sự lãnh đạo của Nơ Trang long là một
    trang sử chói lọi về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đấu tranh giành độc lập cuau3 các
    dân tộc trên đất nước Việt Nam.
    KHXG: STN/1517
    8. Nhà yêu nước Phan Châu Trinh/ Nguyễn Thị Hương Giang (Lời), Tạ Lan Hạnh
    (Tranh), H. : Giáo Dục, 2009.- 39tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Phan Chạu Trinh(1872-1926) hiệu là Tây Hồ, quê ở làng Tây Lộc, huyện
    Tiên Phước (nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh) tỉnh Quảng Nam.
    Năm 1900, ông thi hương đỗ Cử nhân; năm sau thi Hội đỗ Phóng bảng và làm quan
    trong triều đình Huế, nhưng cuối năm 1904, ông từ quan.

    7

    Phan Châu Trinh là người đã giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội; chủ
    trương cứu nước bằng việc nâng cao dân trí, dân quyền. Ông vạch trần chế độ vua quan
    phong kiến thối nát và yêu cầu Pháp phải thay đổi thái độ với nhân dân nước Nam. Ông đề
    cao phương châm 'tự lực khai hóa”, vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân
    chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền…
    Cuộc vận động canh tân cứu nước đầu thế kỉ XX của Phan Châu trinh là một trong
    những phong trào rộng lớn, yêu nước- gọi là phong trào Duy Tân, gây được tiếng vang
    mạnh mẽ, ươm mầm cho tinh thần và khả năng cách mạng của quần chúng nhân dân trong
    sự nghiệp giải phóng dân tộc.
    KHXG: STN/1544
    9. Nguyễn Lộ Trạch người mang tư tưởng canh tân đất nước/ Đoàn Triệu Long, Trà
    My (Lời), Phạm Thị Thảo Nguyên (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh
    họa; 21cm

    Tóm tắt: Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) hiệu là Kì Am, người làng Kế Môn, huyện
    Phong điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, là con trai thượng thư bộ hình kiêm tổng đốc ninh-Thái
    Nguyễn Oai. Ngay từ khi ông còn nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học một biết mời. Thời
    điểm Nguyễn Lộ Trạch sinh ra và lớn lên cũng là lúc đất nước bị thực dân Pháp xâm lược.
    Năm 1877, nhân một kì thi Đình, ông dân lên vua Tự Đức bảng “Thời vụ sách
    thượng”, nêu lên những yêu cầu bức thiết của nước nhà nhưng không được chấp nhận.
    Năm 1882, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ 2 ông lại dân bảng “Thời vụ sách hạ”
    gồm 5 điều cốt yếu để bảo vệ đất nước. Triều đình Tự Đức vẫn không chịu chấp nhận
    những ý kiến gan ruột của ông.
    Năm 1892, ông lại dân lên bảng “thiên hạ đại thế luận” (Bàn chuyện lớn trong thiên
    hạ), nhưng vẫn bị bỏ qua.
    Năm 1895 ộng bị bệnh rồi mất tại Bình Định. Ông được xem là một trong những
    nhà canh tân đất nước tiêu biểu của thế kỉ XIX.
    KHXG: STN/1540

    8

    10. Nguyễn Danh Phương và cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài/ Đoàn Thị
    Tuyết Mai (Lời), Nguyễn Minh Trung (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. :
    minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Nguyễn Danh Phương(?-1751) còn gọi là Quận Hẻo, vốn là một tri thức
    Nho học nhưng do căm ghét triều đình chúa Trịnh tham lam, bạo tàn nên vào năm 1739,
    ông tham gia cuộc khởi nghĩa do Đồ Tế và thủ lĩnh Bồng lãnh đạo và sua đó trở thành thủ
    lĩnh của cuộc khởi nghĩa.
    Nguyễn Danh Phương cho xây dựng căn cứ ở Độc Tôn Sơn (thuộc Tam Đảo),
    chiêu mộ dân binh và tổ chức liên tiếp các cuộc tấn công vào chính quyền nhà Trịnh, gây
    cho quân Trịnh nhiều tổn thất nặng nề.
    Năm 1751, quân Trịnh lợi dụng đêm tối đánh úp quân của Nguyễn danh Phương.
    Ông bị bắt trên đường rút quân, sau đó bị hành hình.
    Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương tuy thất bại nhưng tinh thần đấu tranh
    chống áp bức, cường quyền của cuộc khởi nghãi mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc.
    KHXG: STN/1532
    11. Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện/ Lê Như Hạnh (Lời), Nguyễn Đông Hải
    (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 39tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Phạm Hồng thái (1895-1924) còn có tên là Phạm Thành Tích, sinh năm
    1895, tại làng Do Nha, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình giàu truyền
    thống cách mạng.

    9

    Thuở nhỏ, Phạm Hồng Thái học ở trường quốc học Vinh, sau ra Bắc học trường kĩ
    nghệ Hải Phòng. Đến năm 1919 anh làm công nhân nhà máy điện hãng SiFa, sau tham gia
    đấu tranh bị sa thải. năm 1923 anh làm việc ở nhà máy xi măng Hải Phòng. Tháng 1-1924
    anh cùng Lê Hồng Phong sang xiêm (Thái Lan), rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc).
    Tháng 4-1924, gia nhập Tâm tâm xã do Hồ Tùng Mâu và Lê Hồng Sơn thành lập (1923).
    Ngày 19-6-1924, sau khi viết bản cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp với
    nhân dân toàn Thế Giới, Phạm Hồng thái giả lám kí giả vào Khách sạn Victoria, tại tô giới
    Sa Diện ở Quảng Châu (Trung Quốc) đề ám sát toàn quyền Đông Dương Hăng-ri Meclanh nhưng không thành.
    Sau khi thoát khỏi khách sạn Victoria, bị giặt truy đuổi gắt gao nên Phạm Hồng thái
    đã gieo mình xuống dòng Châu Giang tự vẫn. Lúc ấy anh vừa tròn 28 tuổi. Thi hài Phạm
    Hồng thái được chính phủ Tôn Trung Sơn trân trọng chôn cất ở Đài liệt sĩ Hoàng Hoa
    Cương cùng với 72 liệt sĩ Trung Quốc trong cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), có bia đề
    “Việt Nam liệt sĩ Phạm Hồng Thái chi mộ”.
    KHXG: STN/1358
    12. Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”/ Trần Tích Thành (Lời),
    Nguyễn Mạnh Thái (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Phan huy Chú sinh năm 1782 ở làng Thụy Khê (làng Thầy), huyện Quốc
    Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), trong một gia đình có truyền thống khoa bảng.
    Năm 1809, sau khi đỗ Tú tài, Phan Huy Chú quyết định ở ẩn. Trong suốt 10 năm
    ông “đóng cửa, tạ khách”, dành cả tâm trí, tài năng để nghiên cứu, ghi chép 10 lĩnh vực; bộ
    sách gồm 49 quyển được ông đặt tên là “Lịch triều hiến chương loại chí”.
    Năm 1821, Phan Huy Chú được vua Minh Mạng triệu vào kinh đô Huế. Tại đây,
    ông trải qua nhiều chức vụ.
    Sau năm 1832, nhận thấy triều đình không trọng dụng những người xuất thân dưới
    triều Tây Sơn, mượn cớ đau yếu, cáo quan về quê dạy học.
    Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam,
    đánh dấu một bước phát triển cao về học thuật ở nước ta đầu thế kỉ XIX. Chính công trình
    này đã đưa Phan Huy Chú trở thành nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời trung đại.

    10

    KHXG: STN/1516
    13. Quang Trung Đại phá quân Thanh/ Phan Văn Giới – Hà Thị Thu Ánh (Lời),
    Phạm Tuấn (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2008.- 27tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Nguyễn Huệ - Quang trung (175-1792): Là người con trai thứ hai trong
    gia đình gốc họ Hồ ở ở Nghệ An. Sau vào Nam đổi thành họ Nguyễn.
    Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huê, Nguyễn Lữ sinh ra và lớn lên ở vùng đất võ
    Tây Sơn; được thụ giáo thầy Trương Văn Hiến về văn lẫn võ.
    Dựng cờ khởi nghĩa từ năm 1765, tiêu diệt quyền thần Trương Phúc Loan, đánh
    đuổi chúa Nguyễn, xây dựng cơ nghiệp nhà Tây Sơn vững chắc ở Đàng Trong. Cuối năm
    1784, đánh tan gần 4 vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện, dẫn đường kéo vào xâm
    chiếm, cướp bóc nước ta.
    Tháng 6-1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc tiêu diệt nhà Trịnh,
    giúp vua Hiển Tông bình ổn xã tắc Đàng Ngoài. Sau đó ông kết duyên cùng công chúa
    Ngọc Hân (con gái vua Lê Hiển Tông).
    Cuối năm 1788, nghe tin quân Thanh kéo sáng xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên
    ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, xuất quân tiến ra Bắc tiêu diệt 20 vạn quân
    Thanh.
    Từ 30 tháng 12 năm 1788 đến ngày mùng 5 Tết Kỉ Dậu(1789), đại quân của Hoàng
    đế Quang trung đã nhanh chóng đánh thắng, triệt hạ các căn cứ của quân Thanh ở các đồn
    Gián Khẩu, Hà Hồi và Đống Đa. Hai mươi vạn quân Thanh bị đánh bại, nhiều tướng lĩnh
    bị giết hoặc tự sát.
    Chiến thắng thấn tốc, lẫy lừng xuân Kỉ Dậu (1789) gắn liền với tên tuổi Nguyễn
    Huệ - Quang Trung vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn; một anh hùng dân tộc và là thiên
    tài quân sự Việt Nam.
    KHXG: STN/1525
    14. Quận He Nguyễn Hữu Cầu/ Đoàn Triệu Long (Lời), Lê Phương (Tranh), H. :
    Giáo Dục Việt Nam, 2008.- 39tr. : minh họa; 21cm

    11

    Tóm tắt: Nguyễn Hữu Cầu người làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, trấn hải Dương
    (Nam Thanh, Hải Dương). Ông là một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào nông
    dân Đàng Ngoài vào thế kỉ XVIII. Ông được nhắc đến như là vị anh hùng thoắt ẩn, thoắt
    hiện với những chiến công hiển hách. Những nơi ông đặt chân đến đuề nhận được sự ủng
    hộ mạnh mẽ của nhân dân. ở ông, không chỉ thể hiện là thủ lĩnh tài giỏi của đạo quân khởi
    nghĩa mà còn là người bạn của những nông dân khốn khổ.
    Hơn 9 năm, từ trấn hải Dương đến Đồ Sơn, Hải Phòng đến Bắc Ninh cho đến Nghệ
    An, hàng vạn người nông dân đã đồng lòng, đứng dưới lá cờ khởi nghĩa của ông. Sự nổi
    dậy của phong trào nông dân Đàng Ngoài chống lại chế độ thối nát của chúa trịnh, đã phản
    ánh ý chí đấu tranh cho tự do, chống áp bức, bất công của nông dân. Thủ lĩnh của phong
    trào được nhân dân rất kính trọng và thường gọi một cách thân mật, gần gũi là Quận He
    Nguyễn Hữu Cầu.
    KHXG: STN/1530
    15. Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”/ Nguyễn Thị Hương Giang
    (Lời), Nguyễn Mạnh Thái (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 27tr. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Thủ Khoa Huân (1830-1875), tên thật là Nguyễn Hữu Huân, quê ở Định
    Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông học rất giỏi, đỗ đầu kì thi Hương năm 1852 và sau
    đó được bổ làm Giáo thụ ngay tại huyện nhà.

    12

    Khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược nam Kì (1859), ông đã từ bỏ nghề dạy
    học, chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Ông liên kết với các thủ lĩnh nghĩa quân của các
    vùng khác tiến hành đánh du kích, làm cho quân địch nhiều phen khốn đốn.
    Ông bị giặc bắt ba lần, nhưng cứ mỗi lần được thả ra, ông lại tập hợp lực lượng tiếp
    tục chiến đấu. Nguyễn Hữu Huân là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân chiến đấu kiên
    cường và bền bỉ nhất ở Nam Kì trong những ngày đầu chống Pháp.
    Năm 1875, Thủ Khoa Huân lại bị địch bắt, tực dân pháp và tay sai dùng mọi thủ
    đoạn mua chuộc nhưng không lay chuyển ý chí của ông, cuối cùng chúng đưa ông ra xử tử
    bên bờ sông Tiền.
    KHXG: STN/1537
    16. Trần Bình Trọng thà làm vua nước Nam chứ không làm vương đất Bắc/ Nguyễn
    Thị Nhơn (Lời), Lê Phương (Tranh), H. : Giáo Dục Việt Nam, 2009.- 31tr. : minh họa;
    21cm

    Tóm tắt: Trần Bình Trong 5sinh năm 1259, là con trai của tướng Lê Tần (sau đổi
    tên là Lê Phụ Trần) và công chúa Chiêu Thánh.
    Dưới sự kèm cặp, dạy bảo của cha, Trần Bình Trọng lớn lên tinh thông võ nghệ, am
    hiểu binh pháp.
    Năm 1285, Thoát Hoan chỉ huy đại binh tiến đánh nước ta, Trần Bình Trọng được
    Hưng Đạo Vương giao cho giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc (nay thuộc Khoái Châu, Hưng
    Yên).
    Trần Bình Trọng và quân sĩ án ngữ ở đây đã chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ
    đường rút lui của nhà vua và chủ tướng. Thế giặc mạnh, quân ta lại ít, cuối cùng ông bị sa
    vào tay giặt.
    Trước lời dụ hàng của tướng giặt ông khảng khái từ chối với câu nói nổi tiếng “Ta
    thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”.

    13

    Khí tiết và cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng đả thổi thêm ngọn lửa căm thù
    quân giặc vào toàn thể quân dân Đại Việt thời Trần, góp phần làm nên đại thắng quân
    Mộng-Nguyên.
    KHXG: STN/1553
    17. Triệu Việt Vương người anh hùng đầm Dạ Trạch / Nguyễn Thị Nhơn (Lời), Lê
    Phương (Tranh), H. : Giáo Dục, 2008.-27. : minh họa; 21cm

    Tóm tắt: Triệu Việt Vương (?-571) quê ở phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay
    thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông vốn là người có tài thao lược và đã cùng cha theo Lí Bí khởi
    nghĩa, lật đổ chi1nhq uyền đô hộ nhà Lương.
    Năm 546, Lí Bí trao quyền lãnh đạo khởi nghĩa cho Triêu Quang Phục. Từ một lực
    lượng bị suy yếu. Triệu Quang phục đã tổ chức xây dựng nghĩa quân thành đội quân hùng
    mạnh và được nhân dân khắp nơi ủng hộ. Ông lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ d9nah1 lan
    ra, khiến quân địch rối bời. Quân lương thất bại cuốn gói về nước.
    Đất nước được giải phóng, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, lậy hiệu Triệu Việt
    Vương. Nhân dân còn đặt cho ông cái tên trìu mến là Dạ Trạch Vương (Vua Đầm Đêm) để
    ghi nhớ những năm tháng oai hùng tại đầm Dạ Trạch.
    KHXG: STN/1549

    14

    BẢNG TRA
    Stt

    Tên tài liệu

    Số
    trang
    1

    1

    Lời nói đầu

    2

    Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định

    3

    Bạch Đằng dậy sóng

    2,3

    4

    Chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang

    3,4

    5

    Danh tướng Nguyễn Tri Phương

    6

    Khí tiết anh hùng

    4,5

    7

    Luật sư Nguyễn Hữu Thọ

    5,6

    8

    Nơ Trang Long người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên

    6,7

    9

    Nhà yêu nước Phan Châu Trinh

    7,8

    10

    Nguyễn Lộ Trạch người mang tư tưởng canh tân đất nước

    11

    Nguyễn Danh Phương và cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài

    8,9

    12

    Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện

    9,10

    13

    Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”

    10,11

    14

    Quang Trung Đại phá quân Thanh

    15

    Quận He Nguyễn Hữu Cầu

    11,12

    16

    Phan Huy Chú và “Lịch triều hiến chương loại chí”

    12,13

    17

    Trần Bình Trọng thà làm vua nước Nam chứ không làm vương đất Bắc

    13

    18

    Triệu Việt Vương người anh hùng đầm Dạ Trạch

    14

    19

    Bảng tra

    15

    2

    4

    8

    11

    15
     
    Gửi ý kiến

    BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    TƯ THẾ NGỒI VIẾT VÀ CÁCH CẦM BÚT - DẠY VIẾT CHỮ ĐẸP

    Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC THIỆU KHÁNH !